Trong 10 tháng của năm 2019, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt 217,05 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhiều mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng trưởng khá ấn tượng.
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tính chung 10 tháng năm 2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 217,05 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 66,63 tỷ USD, tăng 16,2%, chiếm 30,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 150,42 tỷ USD, tăng 3,9%, chiếm 69,3% (tỷ trọng giảm 2,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước).
Trong 10 tháng năm 2019 có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 91,2% tổng kim ngạch xuất khẩu (5 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 59,4%).
Trong đó điện thoại và linh kiện có giá trị xuất khẩu lớn nhất đạt 43,5 tỷ USD, chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 28,8 tỷ USD, tăng 17,1%; hàng dệt may đạt 27,4 tỷ USD, tăng 8,7%; giày dép đạt 14,6 tỷ USD, tăng 11,2%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 14,6 tỷ USD, tăng 7,6%.
Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước: Thủy sản đạt 7 tỷ USD, giảm 3,4%; rau quả đạt 3,1 tỷ USD, giảm 5,8%; hạt điều đạt 2,7 tỷ USD, giảm 3,8% (lượng tăng 22,7%); gạo đạt 2,4 tỷ USD, giảm 7,8% (lượng tăng 6,1%); cà phê đạt 2,4 tỷ USD, giảm 21,5% (lượng giảm 13,8%); hạt tiêu đạt 629 triệu USD, giảm 7,4% (lượng tăng 19,6%).
Riêng cao su đạt 1.750 triệu USD, tăng 5,5% (lượng tăng 6,6%); chè đạt 187 triệu USD, tăng 7,9% (lượng tăng 3,4%).
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 10 tháng năm 2019, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 49,9 tỷ USD, tăng 26,6% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là thị trường EU đạt 34,2 tỷ USD, giảm 1,9%; Trung Quốc đạt 32,5 tỷ USD, giảm 2,9%; thị trường ASEAN đạt 21,3 tỷ USD, tăng 2,6%; Nhật Bản đạt 16,6 tỷ USD, tăng 7,5%; Hàn Quốc đạt 16,6 tỷ USD, tăng 9%.
Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu
Dầu thô: Xuất khẩu trong tháng 10/2019 ước tính đạt 480 nghìn tấn, tăng 183% so với tháng trước và trị giá là 220 triệu USD, giảm 170%. Lượng xuất khẩu dầu thô trong 10 tháng ước đạt 3.380 nghìn tấn, trị giá ước đạt 1.703 triệu USD, tăng 3,4% về lượng và giảm 9% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Các mặt hàng XK trong 10 tháng năm 2019. Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Hàng dệt may: Ước tính trong tháng 10/2019, xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước đạt 2,75 tỷ USD, giảm 3,3% so với tháng trước và nâng trị giá xuất khẩu hàng dệt may trong 10 tháng của năm 2019 lên 27,36 tỷ USD, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Trị giá xuất khẩu trong tháng 10/2019 ước tính là 3,2 tỷ USD, giảm 8,1% so với tháng trước. Qua đó, nâng tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 10 tháng của năm 2019 lên gần 28,8 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước.
Điện thoại các loại & linh kiện: Ước tính xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 10/2019 là 4,7 tỷ USD, giảm 13,5% so với tháng trước. Ước tính đến hết tháng 10/2019, xuất khẩu hàng điện thoại các loại và linh kiện của cả nước đạt 43,5 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước.
Máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác: ước tính xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 10/2019 là 1,55 tỷ USD, giảm 3,4% so với tháng trước. Ước tính đến hết tháng 10/2019 đạt 14,56 tỷ USD, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước.