08:34 05/10/2017

6 tháng đầu 2017, lượng dăm gỗ xuất khẩu đạt 4,23 triệu tấn

Ngày 5/10/2017, tại Hà Nội, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA Bình Định) phối hợp với Tổ Chức FOREST TRENDS tổ chức Hội thảo: “Xuất nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tới năm 2017: Diễn biến mới về thị trường”.

6 tháng đầu 2017 tổng lượng dăm gỗ xuất khẩu của Việt Nam đạt 4,22 triệu tấn dăm khô

6 tháng đầu 2017 tổng lượng dăm gỗ xuất khẩu của Việt Nam đạt 4,22 triệu tấn dăm khô

Phát biểu tại Hội thảo về xuất nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam (Vifores) cho biết: Ngành chế biến và xuất khẩu dăm gỗ (sau đây được gọi là ngành dăm) của Việt Nam liên tục được mở rộng trong những năm vừa qua. Số lượng nhà máy chế biến dăm tăng rất nhanh, từ 47 nhà máy năm 2009 lên 130 nhà máy năm 2016. Lượng dăm gỗ xuất khẩu bình quân lên tới 7-8 triệu tấn dăm khô, tương đương 14-16 triệu m3 gỗ quy tròn, hầu hết là gỗ keo từ rừng trồng. Kim ngạch xuất khẩu dăm hàng năm lên tới khoảng 1 tỉ USD, chiếm 15% trong tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của cả nước.

Sự phát triển của ngành dăm đã làm xuất hiện những quan điểm khác biệt. Một luồng quan điểm cho rằng là xuất khẩu dăm đem lại các lợi ích thấp cho nguồn gỗ rừng trồng do vậy cần nên hạn chế. Chính phủ đã áp dụng mức thuế xuất khẩu 2% kể từ đầu 2016. Áp dụng thuế xuất khẩu được kỳ vọng sẽ là cơ chế hữu hiệu, giúp hạn chế xuất khẩu dăm, từ đó tạo nguồn gỗ nguyên liệu cho các ngành chế biến sâu. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho can thiệp thông qua công cụ thuế không hiệu quả, bởi các hộ dân trồng rừng là cung gỗ rừng trồng sẽ là người có quyết định cuối cùng về việc trồng tạo nguyên liệu ngành dăm hay nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ.

Áp thuế xuất khẩu và chính phủ kiên định với định hướng hạn chế sự phát triển của ngành dăm nhằm tạo cơ hội nguồn nguyên liệu cho ngành chế biến sâu với giá trị gia tăng cao hơn cho nguồn gỗ  rừng trồng. Tuy nhiên, hiện chưa thấy có tín hiện nào cho thấy sự chững lại trong phát triển của ngành dăm. Phần dưới đây cập nhật tình hình xuất khẩu dăm gỗ của Việt Nam trong thời gian vừa qua.

Trong 6 tháng đầu 2017 tổng lượng dăm gỗ xuất khẩu của Việt Nam đạt 4,22 triệu tấn dăm khô, tương đương với 8,4 triệu m3 gỗ nguyên liệu, với kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng gần 560 triệu USD. Giá trị kim ngạch và lượng xuất khẩu tương đương với gần 60% lượng và kim ngạch của cả năm 2016. Bảng 1 thể hiện các giá trị và lượng xuất khẩu đến hết tháng 6 năm 2017. Biểu đồ 1 và 2 thể hiện thay đổi về các giá trị này.

Kinh nghiệm từ các doanh nghiệp xuất khẩu dăm cho thấy lượng xuất khẩu thường tăng vào nửa cuối của năm. Do vậy có thể dự đoán năm 2017 sẽ là năm thành công của ngành dăm, với lượng và kim ngạch xuất khẩu sẽ vượt các con số của năm 2016.

Giá dăm gỗ xuất khẩu

Giá xuất khẩu dăm có xu hướng đi xuống và đây là một trong những thách thức lớn nhất cho sự phát triển bền vững của ngành dăm. Giá dăm (FOB) lên đỉnh điểm năm 2015, ở mức khoảng 145 USD/tấn. Đến 2016, giá giảm xuống chỉ xuống còn 137 USD/tấn. Mức giá bình quân trong 6 tháng đầu 2017 chỉ đạt khoảng 132 USD/tấn.

Thông tin từ một số doanh nghiệp trực tiếp tham gia xuất khẩu cho thấy giá xuất khẩu tiếp tục giảm sâu trong quý ba năm 2017 và có khả năng còn tiếp tục giảm trong tương lai. Cũng theo các doanh nghiệp này, có thể có một số nguyên nhân dẫn đến giá giảm, bao gồm:

Các doanh nghiệp Trung Quốc mua dăm tại Việt Nam câu kết, dìm giá bán của các doanh nghiệp dăm Việt Nam.

Chất lượng dăm gỗ của Việt Nam hiện vẫn chưa được kiểm soát; một số doanh nghiệp sản xuất dăm có chất lượng kém, làm ảnh hưởng đến hình ảnh của cả ngành dăm, tạo cơ hội cho người mua dăm đưa ra các yêu cầu giảm giá.

Nguồn cung dăm trên thế giới với chất lượng cao có xu hướng tăng, đặc biệt là tại Úc.

Giá dăm gỗ giảm không chỉ tác động trực tiếp đến hình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dăm Việt Nam mà còn làm ảnh hưởng tới hàng nghìn hộ trồng rừng, là những người cung nguyên liệu cho ngành dăm.

Lượng dăm xuất khẩu theo thị trường

Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là ba thị trường tiêu thụ dăm gỗ lớn nhất của Việt Nam. Bảng 2 chỉ ra lượng dăm gỗ xuất khẩu vào các thị trường trong thời gian gần đây.

Suy giảm của lượng dăm gỗ xuất khẩu năm 2016 so với 2015 có nguyên nhân là lượng xuất vào thị trường Nhật giảm. Lượng xuất khẩu vào Trung Quốc và Hàn Quốc – 2 thị trong số 3 thị trường lớn nhất không giảm.

Trong 6 tháng đầu 2017,  lượng dăm gỗ xuất khẩu đạt 4,23 triệu tấn, tương đương với 59% lượng dăm xuất khẩu của cả năm 2016. Lượng xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc trong 6 tháng đầu 2017 tăng mạnh, đạt 2,55 triệu tấn, tương đương với 62% so với tổng lượng dăm của Việt Nam xuất vào thị trường này năm 2016. Tuy nhiên, trong nửa đầu 2017, lượng dăm xuất khẩu vào Nhật Bản gần như không đổi (tương đương 54% trong tổng lượng dăm xuất khẩu vào thị trường này năm 2016) và giảm nhẹ tại thị trường Hàn Quốc (43% so với tổng lượng xuất năm 2016). 

Kim ngạch xuất khẩu dăm theo thị trường

Hàng năm kim ngạch xuất khẩu dăm đạt bình quân khoảng gần 1 tỉ USD. Trong 6 tháng đầu 2017, kim ngạch xuất khẩu đạt 559,4 triệu USD, tương đương với 57% giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2016.

Trung Quốc là thị trường quan trọng nhất tiêu thu dăm gỗ của Việt Nam. Năm 2016, kim ngạch xuất khẩu dăm của Việt Nam từ thị trường này chiếm 56% tổng kim ngạch dăm xuất khẩu. Đứng sau Trung Quốc là thị trường Nhật Bản (37% trong tổng kim ngạch năm 2016) và Hàn Quốc (6,7%).

Lượng dăm xuất khẩu theo cảng xuất khẩu 

Dăm gỗ của Việt Nam được xuất khẩu qua nhiều cảng biển khác nhau, chủ yếu tập trung ở dải ven biển miền Trung và một số cảng ở vùng Đông Bắc. Đây cũng chính là địa bàn tập trung nhiều diện tích rừng trồng, là nguồn nguyên liệu cho ngành dăm. Các cảng có lượng dăm xuất khẩu lớn nhất bao gồm cảng Cái Lân, Nghi Sơn, Qui Nhơn và Dung Quất. Trong 6 tháng đầu 2017, lượng và giá trị dăm gỗ xuất khẩu qua 4 cảng này như sau: Cảng Cái Lân: 0,78 triệu tấn, 105,3 triệu USD; Cảng Nghi Sơn: 0,48 triệu tấn, 63,6 triệu USD; Cảng Quy Nhơn: 0,55 triệu tấn, 72,7 triệu USD; Cảng Dung Quốc: 0,5 triệu tấn, 63,8 triệu USD.

Dăm gỗ xuất khẩu theo loài gỗ

Keo/tràm là loài gỗ được sử dụng nhiều nhất trong nguyên liệu dăm. Năm 2016, lượng keo tràm được sử dụng làm nguyên liệu dăm lên tới 6,57 triệu tấn, chiếm 90% trong tổng khối lượng keo xuất khẩu. Trong cùng năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu dăm được làm từ loài này lên tới trên 900 triệu USD. Trong 6 tháng đầu 2017, lượng gỗ keo/tràm sử dụng làm nguyên liệu dăm lên tới gần 4 triệu tấn, đem lại trên 520 triệu USD về kim ngạch. 

Ông Nguyễn Tôn Quyền phân tích: Các con số về lượng và kim ngạch xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2017 cho thấy thông điệp rất rõ ràng rằng ngành ngành dăm vẫn tiếp tục mở rộng, mặc dù chính phủ đã có những biện pháp can thiệp về thuế, nhằm hạn chế sự phát triển của ngành. Tuy nhiên, đã xuất hiện một số tín hiệu cho thấy nếu không thay đổi, ngành sẽ khó có khả năng tồn tại một cách bền vững. Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay của ngành là xu hướng giảm giá xuất khẩu. Điểm quan trọng ở đây là giá dăm gỗ của Việt Nam xuất khẩu vào các thị trường chính như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc luôn thấp hơn giá dăm xuất từ các đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp của Việt Nam là các doanh nghiệp từ Úc, Chi lê và Thái Lan.

Điều này chỉ ra một số vấn đề nội tại hiện nay của ngành dăm như cạnh tranh không bình đẳng, thiếu vắng cơ chế kiểm soát chất lượng sản phẩm, thiếu kết nối cần thiết trong nội bộ ngành. Trong bối cảnh ngành dăm có tương quan trực tiếp với các ngành khác như chế biến đồ gỗ, sản xuất giấy, bài toán phát triển ngành dăm theo hướng nào, phát triển đến đâu là vừa đủ, kết nối giữa các doanh nghiệp trong ngành và giữa ngành với các ngành khác là bài toán đặt ra không phải chỉ riêng cho ngành dăm, mà cho cả các ngành khác và các cơ quan quản lý. Việc giải bài toán này cần đặc biệt cân nhắc tới khía cạnh sinh kế của hàng trăm nghìn hộ gia đình trồng rừng hiện đang trực tiếp tham gia vào khâu đầu tiên của chuỗi cung ứng dăm xuất khẩu.

 

Huệ Chi