Theo FiinGroup, lượng trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn năm 2024 (cả gốc và lãi) khoảng 380.000 tỷ đồng, trong đó 70% tập trung vào 2 nhóm ngành chính là bất động sản và ngân hàng; riêng lượng trái phiếu doanh nghiệp bất động sản đáo hạn hơn 110.000 tỷ đồng. Do đó, các chuyên gia cho rằng, khó khăn sẽ còn tiếp diễn năm 2024 khi niềm tin của nhà đầu tư cá nhân chưa quay lại.
Năm 2023 vẫn là năm khó khăn với thị trường TPDN
Thông kê Hiệp hội Thị trường trái phiếu (VBMA), tính đến ngày công bố thông tin 22/12/2023, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) phát hành được ghi nhận đạt gần 274.000 tỷ đồng, trong đó 90,1% là trái phiếu phát hành riêng lẻ. Thị trường TPDN năm 2023 có phân hóa khá rõ ràng. Nửa đầu năm, kênh huy động vốn này gần như đóng băng. Quý I/2023, thị trường gần như không có đợt phát hành TPDN nào, lượng TPDN phát hành của cả 6 tháng đầu năm chỉ đạt khoảng 43.000 tỷ đồng.
Tuy vậy, trong 6 tháng cuối năm, thị trường đã phục hồi khá rõ rệt. Tổng lượng TPDN phát hành 6 tháng cuối năm cao gấp gần 6 lần lượng phát hành nửa đầu năm. Ngân hàng là nhà phát hành lớn nhất thị trường (chiếm khoảng 54% tổng giá trị phát hành), bất động sản là nhóm ngành đứng thứ hai.
Năm 2023 cũng ghi nhận doanh nghiệp phát hành “ròng rã” mua lại TPDN trước hạn. Theo dữ liệu của VBMA, tính đến ngày 22/12/2023, tổng giá trị trái phiếu đã được các doanh nghiệp mua lại trước hạn đạt hơn 231.000 tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2022, bằng gần 85% giá trị phát hành. Ngân hàng là bên mua lại TPDN lớn nhất, chiếm gần một nửa tổng giá trị mua lại trước hạn.
Một điểm nhấn nữa là sàn giao dịch TPDN riêng lẻ chính thức đi vào vận hành. Theo thống kê của HNX, tính đến hết ngày 28/12/2023, khối lượng đăng ký giao dịch đạt gần 717 triệu trái phiếu, giá trị giao dịch đạt hơn 208.000 tỷ đồng.
Nhìn chung, năm 2023 vẫn là năm khó khăn với thị trường TPDN. Theo ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup, thị trường TPDN năm 2023 vẫn là “sân chơi” chủ yếu của các định chế tài chính, khi bên phát hành lẫn bên mua chủ yếu là ngân hàng thương mại. Trong khi đó, nhà đầu tư cá nhân vẫn chưa quay trở lại kênh này. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, năm 2023, nhà đầu tư cá nhân chỉ mua 6,8% tổng lượng TPDN phát hành.
Giá trị mua lại và phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo nhóm ngành.
Tuy vậy, thị trường TPDN đã thoát khỏi thời điểm khó khăn nhất. TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế cho rằng, sự phục hồi rõ nét của thị trường TPDN 6 tháng cuối năm cho thấy, các nhóm chính sách vừa qua với thị trường TPDN đã phát huy hiệu lực, nhất là Nghị định số 08/2023/NĐ-CP. Quyết sách chưa có tiền lệ này, đặc biệt là cơ chế giãn, hoãn nợ trái phiếu và cơ chế cho hoán đổi tiền - hàng (đổi TPDN sang bất động sản) đã giúp doanh nghiệp phát hành “thoát hiểm”.
Áp lực đáo hạn 'đạt đỉnh'
Trong khi đó, theo ông Trần Phú Việt, Trưởng phòng Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm thuộc Khối thông tin tài chính của FiinGroup, khi thanh khoản của thị trường gia tăng, giao dịch đa dạng về số lượng và giá trị, lợi suất đầu tư sẽ dần được hình thành, là cơ sở để xây dựng đường cong lợi suất chung của toàn thị trường, đặc biệt khi kết hợp với hoạt động xếp hạng tín nhiệm. Tuy nhiên, áp lực đáo hạn trái phiếu năm 2024 rất lớn với khoảng 330.000 tỉ đồng, chưa bao gồm cộng số trái phiếu vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi.
Theo ông Việt, ba nhóm TPDN có tỷ lệ nợ xấu cao nhất hiện nay là bất động sản, vật liệu xây dựng và năng lượng tái tạo. Hiện đang có 147 tổ chức phát hành vi phạm nghĩa vụ trả lãi, gốc. Tỷ lệ trả chậm chung toàn thị tường trái phiếu phi ngân hàng ở mức ở mức 20%.
Một tổ chức xếp hạng tín nhiệm khác là VIS Rating cũng cung cấp số liệu tương tự với 148 trái phiếu có tổng giá trị 36.000 tỉ đồng đã lùi ngày đáo hạn, 75% số đó chỉ đạt được sự đồng ý của trái chủ trong vòng hai tháng trước ngày đáo hạn.
“Đây là một chỉ báo cho thấy việc gia hạn trái phiếu chủ yếu để tránh tình trạng chậm trả gốc/lãi và chúng tôi cho rằng cơ chế này giúp cho tổ chức phát hành có thêm thời gian để tái cấu trúc hoạt động kinh doanh cũng như dòng tiền của họ”, đại diện VIS Rating phân tích.
Giá trị trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn đến hết 2024.
Cũng theo VIS Rating, giá trị trái phiếu chậm trả gốc và lãi tính đến tháng 9-2023 là 175.000 tỉ đồng và sẽ tăng lên 195.000 tỉ đồng vào cuối năm. Trong đó, phần lớn là các trái phiếu chậm trả đến từ các ngành hàng đang gặp khó khăn là bất động sản, xây dựng và năng lượng tái tạo.
Thực tế, ngoài các doanh nghiệp bất động sản và xây dựng, nhiều doanh nghiệp năng lượng tái tạo huy động vốn qua kênh trái phiếu ghi nhận tổng nợ phải trả hơn 1.000 tỉ đồng. Trong đó, Điện gió Trung Nam Đắk Lắk 1, BB Power Holdings và Điện Gia Lai (GEC) là ba công ty có tổng nợ phải trả vượt 10.000 tỉ đồng.
Đáng lưu ý, chỉ GEC kinh doanh có lãi trong nửa đầu năm 2023, sở hữu hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu khoảng 1,86 lần. Hai doanh nghiệp còn lại ghi nhận mức lỗ hàng trăm tỉ đồng, sở hữu hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu ở mức 4,7 lần.
Dự báo thị trường TPDN năm 2024, ông Trần Phú Việt cho rằng việc nhận diện được 147 tổ chức phát hành vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi giai đoạn 2022-2023 sẽ giúp thị trường xác định nhóm các tổ chức phát hành có tài chính lành mạnh. Do đó, nợ xấu dự báo cho năm 2024 sẽ ko có quá nhiều bất ngờ, hay biến động cho thị trường.
“Việc thị trường có nhận thức, nhận định về những rủi ro này trong năm 2024 là cơ sở và tiền đề cho việc khôi phục hoạt động phát hành TPDN của nhóm tổ chức phát hành nói trên và thị trường nói chung. Trong đó, nhóm ngành ngân hàng và BĐS đã chiếm 70% tổng giá trị đáo hạn năm 2024, nên 30% còn lại sẽ không tạo ra áp lực quá lớn cho thị trường vốn của năm tới”, ông Việt nhận định.
Cũng theo vị Trưởng phòng của FiinGroup, việc các tổ chức phát hành yếu kém bộc lộ đã giúp thị trường sàng lọc và khoanh vùng nhóm các tổ chức phát hành theo mức độ rủi ro khác nhau. Những doanh nghiệp có lịch sử trả nợ gốc và lãi TPDN sẽ là điểm sáng của thị trường, thu hút nhà đầu tư.
Ngoài ra, các nhóm ngành nghề rủi ro cao cũng đã bộc lộ, giúp nhà đầu tư có góc nhìn chính xác hơn về rủi ro tín dụng từng nhóm ngành. Do đó, mức độ ảnh hưởng của những vi phạm trong việc phát hành TPDN tới thị trường thời gian tới sẽ thấp hơn, thị trường cũng sẽ ít biến động hơn.
“Nhà đầu tư có thể dựa vào lịch sử trả nợ gốc và lãi của doanh nghiệp để nhận định, đánh giá được doanh nghiệp nào tốt, nhóm ngành nào ít rủi ro để giải ngân đầu tư TPDN”, ông Việt khuyến nghị.
Tuy nhiên, ông Việt cũng lưu ý, môi trường kinh doanh có thể tiếp tục khó khăn, dẫn đến triển vọng kinh doanh của các tổ chức phát hành, đặc biệt một số doanh nghiệp ngành BĐS, năng lượng tái tạo có thể sẽ không đủ dòng tiền để trả nợ gốc, lãi trái phiếu đáo hạn trong thời gian tới.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2024 sẽ ra sao?
Về mặt giải pháp, đại diện VIS Rating cho rằng phương án gia hạn trái phiếu tiếp tục là lựa chọn thích hợp được các tổ chức phát hành đề nghị với trái chủ.
Theo đơn vị này, đây là phương án ít phức tạp chỉ cần sự tham gia của hai phía và không gặp phải những vướng mắc về pháp lý hơn so với các phương án khác được Nghị định 08 cho phép thực hiện. Ngược lại, các phương án khác như hoán đổi tài sản hay thanh lý tài sản đảm bảo đều cần đến sự tham gia của bên thứ ba để thực thi các nghiệp vụ phức tạp như định giá tài sản, xử lý tài sản thế chấp, chuyển giao quyền sở hữu tài sản…
Với bối cảnh trên, ông Trần Phú Việt cho rằng, thị trường vẫn cần có thêm một thời gian dài đề hồi phục hoàn toàn, cũng như chứng tỏ được vai trò tích cực của kênh dẫn vốn an toàn, minh bạch để nhà đầu tư quay trở lại thị trường.
Bên cạnh thách thức, thị trường TPDN năm 2024 vẫn có nhiều điểm sáng.
Dự báo thị trường bất động sản tiếp tục khó khăn, thị trường năng lượng tái tạo chưa có đột phá về chính sách, dẫn tới rủi ro nợ xấu trái phiếu với các doanh nghiệp thuộc hai nhóm ngành này tiếp tục gia tăng, các chuyên gia cho rằng kịch bản doanh nghiệp phát hành trái phiếu mới để huy động vốn sẽ khó xảy ra do niềm tin của nhà đầu tư chưa hồi phục và thiếu vắng nhà đầu tư tổ chức.
Ngoài ra, nhà đầu tư cá nhân muốn mua TPDN phải tuân thủ các điều kiện khắt khe tại Nghị định số 65/2022 từ tháng 1-2024, tức phải sở hữu danh mục chứng khoán niêm yết nắm giữ với giá trị tối thiểu 2 tỉ đồng, được xác định bằng giá trị thị trường bình quân theo ngày của danh mục chứng khoán trong thời gian tối thiểu 180 ngày liền kề trước ngày xác định tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Điều này khiến phần lớn nhà đầu tư cá nhân không chuyên nghiệp bị loại khỏi thị trường trái phiếu.
Yếu tố này khiến không ít chuyên gia lo ngại về viễn cảnh sụt giảm thanh khoản với thị trường trái phiếu năm 2024.
Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, cho rằng cần cân nhắc thêm việc có nên áp dụng chuẩn nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp cá nhân ngay từ đầu năm 2024 hay gia hạn thêm một thời gian nữa, bởi việc áp dụng ngay có thể sẽ ảnh hưởng đến thanh khoản của những trái phiếu đã phát hành trước đây.
Tương tự, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup, đánh giá kênh huy động vốn trung – dài hạn trong nước vẫn bế tắc khi thị trường TPDN vẫn đang gặp khó khăn, kỳ hạn phát hành ngắn, với mục đích chủ yếu là cơ cấu nợ hoặc phát hành của nhóm ngân hàng thương mại.
Ngoài ra, nhiều quỹ đầu tư lớn của Mỹ sang tìm hiểu thị trường trái phiếu Việt Nam, nhưng thị trường trong nước chưa thể thu hút nhóm này do phần lớn TPDN chưa được xếp hạng tín nhiệm. Còn với nhà đầu tư cá nhân, TPDN không còn là lựa chọn phổ biến, dù lợi suất từ kênh này vẫn khá hấp dẫn so với mặt bằng lãi suất tiết kiệm hiện nay.
“Để khôi phục thị trường TPDN không chỉ siết lại các quy định về phát hành như thời gian qua, mà quan trọng hơn là phải phát triển cơ sở nhà đầu tư, nhất là thị trường nhà đầu tư tổ chức”, ông Thuân nhấn mạnh.
Bên cạnh thách thức, thị trường TPDN năm 2024 vẫn có nhiều điểm sáng. Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia kinh tế, năm 2024, lãi suất của Mỹ, châu Âu… có thể sẽ giảm, kéo theo dòng vốn chảy về các nước đang phát triển có khả năng phục hồi như Việt Nam. Lãi suất trong nước năm 2024 cũng dự báo tiếp tục duy trì ở mặt bằng thấp, điều này sẽ hỗ trợ tốt cho kênh phát hành TPDN.
Ông Trần Lê Minh, Tổng giám đốc VIS Rating cho rằng, thị trường TPDN đang bước vào chu kỳ tăng trưởng mới bền vững hơn nhờ lãi suất giảm, các chính sách hỗ trợ kinh tế phục hồi, thị trường minh bạch hơn, các quy định chặt chẽ hơn, tâm lý nhà đầu tư cải thiện.
Mặc dù số lượng doanh nghiệp phát hành TPDN chậm nghĩa vụ thanh toán vẫn còn khá nhiều, song có nhiều doanh nghiệp phát hành vẫn thanh toán đúng hạn, tạo được uy tín với thị trường. Nói cách khác, thông tin thị trường đang minh bạch, rõ ràng hơn, niềm tin với nhà đầu tư cũng đang dần quay lại. Đây là yếu tố quyết định với sự hồi phục của thị trường.
Hồng Quang