10:24 18/04/2023

Bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn khối công thương địa phương

Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, Quý I/2023 tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước chỉ tăng 3,32%, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước.

Sáng 18/4, Bộ Công Thương tổ chức hội nghị trực tuyến khối công thương địa phương về các giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu năm 2023.

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên cho biết, quý 1/2023, tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước chỉ tăng 3,32%, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước. Nhiều địa phương được xem là đầu tàu kinh tế của đất nước nhưng có mức tăng trưởng cũng rất thấp.

Do đó, hội nghị nhằm nắm bắt khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu của các địa phương, chỉ rõ nguyên nhân hạn chế đang gặp phải và bàn các giải pháp tháo gỡ để lấy lại mục tiêu tăng trưởng thực hiện hoàn thành các mục tiêu mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và ngành công thương đề ra.

Nhiều địa phương là đầu tầu kinh tế nhưng tăng trưởng rất thấp
Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên chủ trì Hội nghị trực tuyến khối Công Thương địa phương quý I/2023

Tại Hội nghị, ông Ngô Quang Trung – Cục trưởng Cục Công Thương địa phương, Bộ Công Thương đã báo cáo sơ bộ kết quả ngành Công Thương khối địa phương đạt được trong quý I/2023.

Theo đó, tính chung quý I năm 2023, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) giảm 2,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 6,8%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo giảm 2,4%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8%; ngành khai khoáng giảm 4,5%.

Có 48 địa phương có IIP quý I/2023 tăng và 15 địa phương có IIP giảm so với cùng kỳ năm trước. Các địa phương tăng cao tiêu biểu là: Tuyên Quang tăng 18,01%; Thái Bình tăng 13,90%; Quảng Trị tăng 13,79%; Hải Phòng tăng 13,12%; Hậu Giang tăng 13,05%; Hà Nam tăng 12,70%; Hải Dương tăng 12,30%; Nam Định tăng 12,17%; Kon Tum tăng 11,52%; Phú Yên tăng 11,30%; Bắc Giang tăng 10,45%; Phú Thọ tăng 10,33%; Cao Bằng tăng 10,31%.

Trong đó, ngành công nghiệp chủ lực của một số địa phương đạt mức tăng khá cao. Cụ thể, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng (Cao Bằng tăng 26,8%; Tuyên Quang tăng 22,6%; Hải Phòng tăng 14,8%; Quảng Ninh tăng 13,6%; Hải Dương tăng 12,5%; Nam Định tăng 12,3%; Đắk Lắk, Bạc Liêu và Phú Yên cùng tăng 11,6%; Bắc Giang và Kiên Giang tăng 10,9%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao (Hậu Giang tăng 286,1%; Thái Bình tăng 55,7%; Quảng Trị tăng 37%; Cà Mau tăng 33,7%).

Ở chiều ngược lại, ngành công nghiệp chủ lực của một số địa phương tăng thấp hoặc giảm. Cụ thể: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm (Quảng Nam giảm 34,3%; Bắc Ninh giảm 18,8%; Vĩnh Long giảm 16,5%; Sóc Trăng giảm 15,6%; Vĩnh Phúc giảm 8,1%.); ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm (Ninh Bình giảm 31,8%; Trà Vinh giảm 29,3%; Hà Giang giảm 24,9%; Cao Bằng giảm 21,9%; Hải Phòng giảm 18,5%...)

Về xuất nhập khẩu, tính chung quý I năm 2023, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 79,17 tỷ USD, giảm 11,9% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 14,4%); trong đó khu vực doanh nghiệp trong nước giảm mạnh hơn (giảm 17,4%) so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (giảm 10%), điều này cho thấy những khó khăn của các doanh nghiệp trong nước trong việc khôi phục sản xuất kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu.

Các địa phương tăng cao tiêu biểu là: Điện Biên tăng 485,58%; Lai Châu tăng 457,50%; Cao Bằng tăng 356,64%; Lạng Sơn tăng 93,80%; Sơn La tăng 50,70%; Hà Tĩnh tăng 44,81%; Đắk Nông tăng 27,80%; Bắc Giang tăng 21,43%; Yên Bái tăng 20,85%...

Trong quý I/2023, có 14 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, giảm 2 mặt hàng so với quý I/2022 (có 16 mặt hàng), chiếm 77,4% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 04 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 52,8%).

Tại hội nghị, lãnh đạo các địa phương đã báo cáo những khó khăn chủ yếu như: nguồn vốn cho vay sản xuất, kinh doanh vẫn khó tiếp cận, thị trường đầu ra của sản phẩm bị thu hẹp, số doanh nghiệp giải thể tăng; các dự án điện gặp khó khăn. Đồng thời, các địa phương kiến nghị Bộ Công Thương xem xét tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ thông tin thị trường hàng hóa xuất khẩu, xúc tiến thương mại, hỗ trợ chỉ số hàng tồn kho. Bộ xem xét kiến nghị vấn đề vốn sản xuất và lãi suất ngân hàng, cắt giảm thủ tục hành chính để cải thiện môi trường kinh doanh.

Trước kiến nghị của các địa phương, đại diện Bộ Công Thương cũng đã đưa ra những giải pháp như: Tiếp tục tổ chức kết nối doanh nghiệp trong nước tham gia được vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp lớn toàn cầu. Tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ phục hồi, phát triển sản xuất. Bộ sẽ rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp và thương mại đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo khả thi, phù hợp với các FTA đã ký kết. Đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm cơ cấu lại ngành công thương dựa trên nền tảng của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương sẽ đẩy mạnh phát triển thương mại nội địa, các chuỗi cung ứng hàng hóa trong nước để kết nối giữa sản xuất với thị trường, ưu tiên phát triển chuỗi cung ứng các mặt hàng nông sản, thực phẩm. Hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu cho hàng hóa trong nước; bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hóa thiết yếu. Đẩy mạnh phát triển thị trường ngoài nước thông qua kết nối giữa các cơ quan của Bộ Công Thương, hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài với các địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp và các bộ, ngành liên quan để kịp thời cập nhật cho doanh nghiệp, hiệp hội về thông tin, nhu cầu, cũng như các quy định mới của thị trường. Đẩy mạnh hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới. Thúc đẩy phát triển dịch vụ logistics, qua đó giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

N.Vũ