Từ năm 2026, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh sẽ nộp thuế thu nhập cá nhân theo lợi nhuận với hình thức kê khai thay vì thuế khoán, bỏ thuế môn bài và nộp thuế giá trị gia tăng như cũ.
Hộ kinh doanh chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số đơn vị kinh tế ở Việt Nam. Theo báo cáo của Cục Thống kê, tính đến hết tháng 7/2025, số lượng hộ kinh doanh tại Việt Nam là khoảng 6 triệu hộ, trong đó hơn 1,9 triệu hộ có đăng ký; trong đó, tính riêng 7 tháng đầu năm 2025, có hơn 500 nghìn hộ kinh doanh thành lập mới (tăng gần 165% so với cùng kỳ năm 2024).
Điều này cho thấy hộ kinh doanh ngày càng tăng, giúp tạo ra hàng triệu việc làm, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và các thành phố nhỏ, đóng góp lớn vào việc giảm nghèo và nâng cao thu nhập cho người dân; đóng góp vào GDP quốc gia của hộ kinh doanh chiếm khoảng 30% GDP của cả nước.
Cá nhân kinh doanh hay hộ kinh doanh, theo quy định, cả hai đều được áp dụng chung các quy định quản lý và thuế. Từ ngày 1/7/2025, theo quy định, mã số thuế của Người nộp thuế được thay thế bằng số định danh cá nhân. Đây là bước tiến nhằm chuẩn hóa dữ liệu và đơn giản hóa thủ tục thuế trong toàn hệ thống quản lý.
Từ năm 2026, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh sẽ nộp thuế thu nhập cá nhân theo lợi nhuận với hình thức kê khai thay vì thuế khoán, bỏ thuế môn bài và nộp thuế giá trị gia tăng như cũ.
Hoàn thiện thể chế, chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Mô hình và phương pháp quản lý thuế được xây dựng bám sát theo chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân tại các Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ chính trị, Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc Hội, Nghị quyết số 138/NQ-CP, số 139/NQ-CP của Chính phủ, cụ thể như:
Ban hành các quy định để bãi bỏ hình thức thuế khoán đối với hộ kinh doanh; văn bản hướng dẫn được rà soát để sửa đổi đảm bảo triển khai đồng bộ và đạt kết quả. Sửa đổi chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thuế giá trị gia tăng (GTGT) và các văn bản hướng dẫn theo hướng điều chỉnh ngưỡng doanh thu không chịu thuế phù hợp thực tiễn; sửa đổi phương pháp tính thuế TNCN đối với hộ kinh doanh có “quy mô lớn” tương đương với quy mô doanh nghiệp nhỏ, vừa sao cho tương đồng với thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của doanh nghiệp; xem xét áp dụng thuế TNCN trên thu nhập (doanh thu trừ chi phí) cho những hộ kinh doanh có đầy đủ sổ sách, nhằm khuyến khích hộ kinh doanh minh bạch hóa chi phí, đầu tư mở rộng kinh doanh mà không bị thiệt thòi so với doanh nghiệp về thuế; bổ sung quy định miễn/giảm thuế TNCN để khuyến khích đổi mới sáng tạo nhằm thúc đẩy kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW. Sửa đổi, bổ sung quy định hướng dẫn về chế độ kế toán hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Xây dựng mô hình quản lý thuế mới đối với hộ kinh doanh sau khi bỏ thuế khoán theo hướng phân nhóm theo quy mô doanh thu để xác định phương pháp tính thuế/ mô hình quản lý thuế phù hợp, xác định ngưỡng doanh thu để áp dụng hóa đơn điện tử máy tính tiền; định hình rõ vai trò, chức năng các bộ phận trong cơ quan thuế trong quản lý hộ kinh doanh, tránh bỏ trống hoặc chồng chéo nhiệm vụ khi thay đổi phương thức quản lý.
Xây dựng Quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh theo phương thức kê khai, quy trình kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế và kiểm tra tại trụ sở hộ kinh doanh phù hợp với chương trình tổng thể tái thiết kế quy trình ngành Thuế.
Nhiều thay đổi về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Với quy định pháp luật về thuế mới được Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua (Luật quản lý thuế, Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế giá trị gia tăng) sẽ có nhiều thay đổi tác động đến Người nộp thuế trên cả nước cả về phương thức và mức thuế suất.
Theo quy định, cá nhân kinh doanh hoặc hộ kinh doanh do cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh hoặc người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm người đại diện hộ kinh doanh, đều được xác định là Người nộp thuế. Có hai trường hợp Người nộp thuế cư trú (có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn) và Người nộp thuế không cư trú.
Các thu nhập chịu thuế TNCN từ hoạt động kinh doanh bao gồm: Hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định; đại lý, môi giới, hợp tác kinh doanh với tổ chức; kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số.
Từ năm sau, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh sẽ nộp thuế TNCN theo lợi nhuận với hình thức kê khai thay vì thuế khoán, bỏ thuế môn bài và nộp thuế GTGT như trước đây. Vậy, việc tính và nộp thuế đối với hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh được thực hiện ra sao?
Miễn/không phải nộp thuế (TNCN, GTGT)
Người nộp thuế có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống (ngưỡng không chịu thuế) không phải nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và hàng hóa, dịch vụ của họ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tằng (GTGT). Tuy nhiên, Người nộp thuế phải thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong năm với cơ quan thuế, theo quy định của Luật quản lý thuế. Lưu ý, mức doanh thu này sẽ được điều chỉnh trong từng thời kỳ.
Ngoài ra, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường; sản xuất muối; thu nhập từ lợi tức cổ phần của thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp, cá nhân là nông dân ký kết hợp đồng với doanh nghiệp tham gia “Cánh đồng lớn”, trồng rừng sản xuất, nuôi trồng thủy sản, được miễn thuế TNCN.
Trường hợp phải nộp thuế (TNCN, GTGT) đối với cá nhân cư trú
Về thuế TNCN: Đối với thu nhập từ kinh doanh của Người nộp thuế cư trú có doanh thu năm trên ngưỡng không chịu thuế được xác định = Thu nhập tính thuế nhân (x) với Thuế suất, cụ thể theo các mức doanh thu năm như sau:
* Từ 500 triệu đến 3 tỷ đồng, có hai sự lựa chọn:
Lựa chọn 1: Thu nhập tính thuế được xác định = Doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra trừ (-) đi Chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế; Thuế suất 15%.
Đây là cách tính thuế trên lợi nhuận (chênh lệch thu chi) với Người nộp thuế cư trú. Cụ thể, hộ có doanh thu dưới 3 tỷ đồng một năm, xác định được chi phí đầu vào sẽ chịu thuế suất 15% trên phần lợi nhuận, tương ứng ưu đãi thuế TNDN của công ty siêu nhỏ có doanh thu tương tự.
Lựa chọn 2: Nộp thuế theo Doanh thu tính thuế nhân (x) với Thuế suất, tùy theo ngành nghề kinh doanh (phân phối, cung cấp hàng hoá: thuế suất 0,5%; dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: thuế suất 2%; hoạt động cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, đại lý bán hàng đa cấp: thuế suất 5%; sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: thuế suất 1,5%; hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử, phim số, ảnh số, nhạc số, quảng cáo số: thuế suất 5%; hoạt động kinh doanh khác: thuế suất 1%).
Đây là tình huống phổ biến của Người nộp thuế cư trú (quy mô nhỏ, siêu nhỏ) do không xác định được chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đồng thời doanh thu tính thuế sẽ được trừ đi khoản thu thuộc ngưỡng không chịu thuế, trước khi tính thuế.
* Từ trên 03 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng: Thuế suất 17%.
* Từ trên 50 tỷ đồng: Thuế suất 20%.
* Riêng đối với người cho thuê bất động sản (trừ hoạt động kinh doanh lưu trú): Thuế suất 5%. Doanh thu tính thuế sẽ được trừ đi khoản thu thuộc ngưỡng không chịu thuế, trước khi tính thuế.
Với thuế GTGT: Khi chuyển sang kê khai vẫn nộp thuế GTGT theo doanh thu và bảng tỷ lệ không thay đổi. Số thuế GTGT phải nộp = Doanh thu tính thuế GTGT (x) nhân với tỷ lệ Thuế suất theo ngành nghề.
Nếu hộ kinh doanh sử dụng hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế, hệ thống thông tin quản lý thuế sẽ tự động tạo lập tờ khai thuế để hỗ trợ hộ kinh doanh trong việc khai thuế và tính thuế, dựa trên dữ liệu hóa đơn điện tử, cơ sở dữ liệu quản lý thuế và các nguồn dữ liệu khác mà cơ quan thuế có được.
Hộ kinh doanh thực hiện khai thuế, tính thuế đối với từng loại thuế theo kỳ tính thuế. Cơ quan thuế sẽ căn cứ vào cơ sở dữ liệu quản lý thuế để cung cấp thông tin hỗ trợ hộ kinh doanh trong việc khai thuế và tính thuế.
Trường hợp phải nộp thuế (TNCN) đối với cá nhân không cư trú
Đối với thu nhập từ kinh doanh của Người nộp thuế không cư trú được xác định = Doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhân (x) với Thuế suất theo ngành nghề kinh doanh (phân phối, cung cấp hàng hoá: 1%; dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%; sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 2%; hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử, phim số, ảnh số, nhạc số, quảng cáo: 5%; hoạt động kinh doanh khác: 2%).
Trong đó, doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cá nhân được hưởng, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền, bao gồm cả chi phí do bên mua hàng hoá, dịch vụ trả thay cho cá nhân không cư trú mà không được hoàn trả.
Trường hợp thoả thuận hợp đồng không bao gồm thuế thu nhập cá nhân thì doanh thu tính thuế phải quy đổi là toàn bộ số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được dưới bất kỳ hình thức nào từ việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam không phụ thuộc vào địa điểm tiến hành các hoạt động kinh doanh.
7 tháng đầu năm ghi nhận hơn 500 nghìn hộ mới, tăng gần 165% so với cùng kỳ 2024.
Khai thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác
Trường hợp nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số có chức năng đặt hàng trực tuyến và thanh toán: Chủ quản nền tảng (trong nước hoặc nước ngoài) có trách nhiệm khấu trừ, kê khai thay và nộp thay số thuế đã khấu trừ của hộ kinh doanh. Trường hợp không có chức năng đặt hàng trực tuyến và thanh toán: Hộ kinh doanh trực tiếp khai thuế, tính thuế và nộp thuế theo quy định.
Như vậy, nghĩa vụ thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số thuộc trách nhiệm của Chủ quản nền tảng, không phải của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Về phương thức, thời hạn nộp thuế
Thời hạn nộp thuế: Nếu tự tính thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế. Nếu cơ quan quản lý thuế tính thuế, thông báo nộp thuế hoặc có quyết định xử lý, thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo, quyết định của cơ quan quản lý thuế.
Phương thức nộp thuế: Nộp điện tử (qua Hệ thống thông tin quản lý thuế; Hệ thống dịch vụ công trực tuyến của Kho bạc Nhà nước; Dịch vụ thanh toán điện tử của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp với Hệ thống thông tin quản lý thuế), hoặc nộp trực tiếp (tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, cơ quan quản lý thuế, tổ chức được cơ quan quản lý thuế ủy nhiệm thu thuế).
Chứng từ và Mã định danh: Mã định danh khoản phải nộp được cơ quan quản lý thuế cung cấp là một dãy các ký tự được tạo trên Hệ thống thông tin quản lý thuế, có tính duy nhất cho từng khoản phải nộp của người nộp thuế.
Người nộp thuế được cấp chứng từ nộp tiền sau khi nộp thuế, trường hợp số tiền thuế đã được cơ quan quản lý thuế cung cấp mã định danh khoản phải nộp thì người nộp thuế nộp theo mã định danh khoản phải nộp.
Hải Phòng