Bộ Y tế chính thức đưa thuốc kháng virus Molnupiravir 400 mg vào phác đồ điều trị, được chỉ định cho bệnh nhân nhẹ.
Theo "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19" do Bộ Y tế ban hành, đối với thuốc kháng virus, Bộ Y tế hướng dẫn như sau:
Nếu là thuốc chưa được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng, chưa được cấp phép lưu hành, chưa được cấp phép sử dụng khẩn cấp tại bất kỳ nước nào trên thế giới, việc sử dụng phải tuân thủ các quy định về thử nghiệm lâm sàng của Bộ Y tế.
Nếu là thuốc đã được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng hoặc được cấp phép lưu hành, hoặc được cấp phép sử dụng khẩn cấp tại ít nhất 1 nước trên thế giới thì có thể được chỉ định điều trị theo diễn biến bệnh lý của người bệnh (ví dụ: thuốc remdesivir, favipiravir,...).
Điều trị bệnh nhân Covid-19. Ảnh minh họa.
Về triệu chứng lâm sàng bệnh COVID-19, hướng dẫn lần này cập nhật các triệu chứng liên quan đến biến thể Delta. Cụ thể, thời gian ủ bệnh của biến thể Delta ngắn hơn, với các biểu hiện như đau đầu, đau họng, chảy nước mũi, ho, sốt, tiêu chảy, khó thở, đau cơ.
Trong khi đó, với thể Alpha, người bệnh có các biểu hiện sốt, ho khan, mệt mỏi, đau họng, đau đầu. Một số trường hợp bị nghẹt mũi, chảy nước mũi, mất vị giác và khứu giác, buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng…
80% các trường hợp nhiễm thể Alpha có triệu chứng nhẹ, 20% bệnh nhân diễn biến nặng và 5% cần phải điều trị tại các đơn vị hồi sức tích cực với biểu hiện suy hô hấp cấp, tổn thương phổi do COVID-19, tổn thương vi mạch gây huyết khối và tắc mạch, viêm cơ tim, sốc nhiễm trùng, suy chức năng cơ quan... và dẫn đến tử vong.
Đối với thể Delta, tỷ lệ nhập viện cấp cứu 5,7% (cao hơn 4,2% Alpha), tỷ lệ nhập viện, nhập ICU và tử vong tăng hơn trước. Ngoài ra, chủng Delta liên quan tăng mức độ nặng của bệnh biểu hiện bởi tăng nhu cầu oxy, nhập ICU hoặc tử vong so với những chủng khác. Ngoài ra, chủng Delta có tải lượng virus cao hơn 1.260 lần so với 19A/19B và khả năng lây cao hơn 15-20% so với chủng khác.
Thuốc Molnupiravir là một trong hai loại thuốc được Bộ Y tế chấp thuận đưa vào phác đồ điều trị COVID-19.
Về điều trị, hướng dẫn lần này bổ sung thuốc kháng virus, kháng thể kháng virus, ức chế IL-6 nếu đã được cấp phép sử dụng khẩn cấp tại ít nhất một nước trên thế giới, với thông tin đầy đủ về chỉ định, chống chỉ định, liều dùng. Trong đó, Bộ Y tế chính thức đưa thuốc kháng virus Molnupiravir vào phác đồ.
Cụ thể, trong khi Remdesivir được chỉ định dùng cho bệnh nhân nội trú thì Molnupiravir được chỉ định cho bệnh nhân nhẹ. Thuốc này chống chỉ định với phụ nữ có thai, phụ nữ đang kế hoạch có thai, người dưới 18 tuổi, suy gan, suy thận nặng, phụ nữ cho con bú. Thời gian điều trị là 7-14 ngày.
Kết quả nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thuốc kháng virus Molnupiravir trong điều trị Covid-19 đã công bố tại một số quốc gia cho kết quả khả quan về tính an toàn, khả năng dung nạp. Đặc biệt, thuốc giúp giảm tải lượng virus rõ rệt và làm sạch virus ở bệnh nhân thể nhẹ và vừa sau 5 ngày điều trị, giảm tỷ lệ nhập viện, giảm tử vong. Tại Việt Nam, thuốc được nghiên cứu thử nghiệm tại cơ sở y tế trước, sau đó thí điểm tại cộng đồng tại TPHCM (được phát trong gói thuốc điều trị tại nhà cho các F0).
Đồng thời, Bộ Y tế cũng lưu ý vấn đề điều trị dự phòng sớm bằng corticoid, chống đông máu.
Về tiêu chuẩn xuất viện, các trường hợp không có triệu chứng lâm sàng được ra viện khi đã được cách ly, điều trị tối thiểu 10 ngày và có kết quả xét nghiệm bằng phương pháp rRT-PCR âm tính với SARS-CoV-2 hoặc nồng độ virus thấp (CT ≥ 30) vào ngày thứ 9.
Các trường hợp có triệu chứng lâm sàng được ra viện khi đủ các điều kiện sau: Được cách ly, điều trị tối thiểu 14 ngày; các triệu chứng lâm sàng hết trước ngày ra viện từ 3 ngày trở lên; có kết quả xét nghiệm bằng phương pháp rRT-PCR âm tính với SARS-CoV-2 hoặc nồng độ virus thấp (CT ≥ 30) vào trước ngày ra viện.
Các trường hợp cách ly điều trị trên 10 ngày và có kết quả xét nghiệm rRT-PCR nhiều lần có nồng độ virus CT < 30 được ra viện đủ các điều kiện sau: Đã được cách ly điều trị tại cơ sở tiếp nhận, điều trị Covid-19 đủ 21 ngày tính từ ngày có kết quả dương tính với SARS-CoV-2; các triệu chứng lâm sàng hết trước ngày ra viện từ 3 ngày trở lên.
Người được ra viện sẽ được giám sát tại nhà bởi y tế cơ sở và CDC địa phương. Người bệnh sau khi ra viện cần ở tại nhà và tự theo dõi trong 7 ngày (hướng dẫn trước là cách ly 14 ngày), đo thân nhiệt 2 lần/ngày. Nếu thân nhiệt cao hơn 38 độ C ở 2 lần đo liên tiếp hoặc có bất kỳ dấu hiệu lâm sàng bất thường nào, cần báo cho y tế cơ sở để thăm khám và xử trí kịp thời. Người bệnh luôn tuân thủ thông điệp 5K.
Đối với người bệnh ra viện thuộc trường hợp cách ly điều trị trên 10 ngày và có kết quả xét nghiệm rRT-PCR nhiều lần có nồng độ virus CT < 30, sau khi ra viện phải thực hiện cách ly y tế tại nhà trong 7 ngày; đo thân nhiệt 2 lần/ngày.
Nếu thân nhiệt cao hơn 38 độ C ở hai lần đo liên tiếp hoặc có bất kỳ dấu hiệu lâm sàng bất thường nào, họ cần báo cho y tế cơ sở để thăm khám và xử trí kịp thời.
Ngọc Khánh (t/h)