06:00 13/05/2025

Chuẩn hóa và nâng tầm thương hiệu chè Việt

Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đang ngày càng khẳng định vai trò là một động lực chiến lược, thúc đẩy ngành chè Việt Nam phát triển theo hướng chất lượng cao, có thương hiệu và bền vững. Từ một ngành sản xuất nông nghiệp truyền thống, nhờ OCOP, chè Việt đã và đang chuyển mình mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế.

Khát vọng nâng tầm chè Việt từ chương trình OCOP
Sản phẩm chè đạt chuẩn OCOP xuất hiện tại nhiều hội chợ xúc tiến thương mại

Chuẩn hóa và nâng tầm thương hiệu chè Việt

Nhờ chương trình OCOP, nhiều sản phẩm chè ở các địa phương đã được tiêu chuẩn hóa, đánh giá, phân hạng và gắn sao chất lượng (3 đến 5 sao), tạo đà cho hoạt động xây dựng thương hiệu. Tính đến tháng 9/2024, cả nước đã có 14.085 sản phẩm OCOP đạt 3 sao trở lên, trong đó có hàng trăm sản phẩm từ chè.

Không chỉ Thái Nguyên, nơi nổi tiếng với chè Tân Cương và chè đinh giá trị cao, mà nhiều tỉnh khác cũng đã khẳng định vị thế chè địa phương qua OCOP. Sản phẩm “Trà đinh cao cấp Hoài Trung” của Công ty TNHH chè Hoài Trung (Thanh Ba, Phú Thọ) được công nhận đạt tiêu chuẩn 5 sao cấp quốc gia. Đây cũng là sản phẩm chè đầu tiên của tỉnh Phú Thọ và là sản phẩm thứ 2 trong cả nước đạt được tiêu chuẩn OCOP 5 sao.

Tại Tuyên Quang, sản phẩm chè Shan tuyết Hồng Thái của huyện Na Hang đã được công nhận OCOP 4 sao. Đây là loại chè cổ thụ có hương thơm tự nhiên, được chế biến thủ công kết hợp công nghệ sấy hiện đại, ngày càng được ưa chuộng.

Ở tỉnh Lai Châu, sản phẩm chè Shan tuyết hữu cơ của các xã thuộc huyện Sìn Hồ và Than Uyên cũng đạt OCOP 3 – 4 sao. Mặc dù sản phẩm chủ yếu ở dạng thô, tỉnh đang tích cực đầu tư cải tiến mẫu mã và đa dạng hóa hình thức đóng gói để tăng năng lực cạnh tranh. Nghệ An, một vùng chè giàu tiềm năng, đã có sản phẩm chè Thanh An của huyện Thanh Chương đạt chuẩn OCOP 3 sao và được quy hoạch phát triển theo hướng VietGAP. 

Những sản phẩm này không chỉ nâng cao giá trị kinh tế địa phương mà còn góp phần quảng bá bản sắc văn hóa và tài nguyên bản địa.

Đổi mới công nghệ – Nâng cao năng lực sản xuất

OCOP cũng là cú hích lớn giúp các hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất chè mạnh dạn đầu tư công nghệ hiện đại. Tại Tuyên Quang, Hợp tác xã Sử Anh đã đầu tư hệ thống dây chuyền sản xuất tiên tiến, cải thiện đáng kể năng suất, chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Nhờ đó, hợp tác xã đã tạo việc làm ổn định cho hàng chục lao động địa phương với mức thu nhập bình quân từ 3 triệu đồng/người/tháng.

Tại các tỉnh như Lai Châu và Yên Bái, các hợp tác xã sản xuất chè cũng đã được tiếp cận với chính sách hỗ trợ máy móc sơ chế, đóng gói hút chân không, dán nhãn QR truy xuất nguồn gốc – một yêu cầu tất yếu khi hướng đến thị trường xuất khẩu.

Ứng dụng công nghệ số và mở rộng thị trường

Một thành công đáng kể của chương trình OCOP là việc thúc đẩy mạnh mẽ ứng dụng công nghệ số vào chuỗi giá trị chè. Tại Thái Nguyên, chính quyền địa phương đã triển khai phần mềm đánh giá, phân hạng và cơ sở dữ liệu sản phẩm OCOP trên thiết bị di động, đồng thời hỗ trợ các chủ thể tham gia bán hàng qua các nền tảng thương mại điện tử như TikTok, Facebook, Zalo. Mô hình này hiện đang được nhiều địa phương khác như Tuyên Quang, Lâm Đồng và Hà Giang học tập và nhân rộng.

Khát vọng nâng tầm chè Việt từ chương trình OCOP
Sản phẩm Tâm Trà của vùng Phổ Yên, Thái Nguyên trên sàn thương mại điện tử TikTok Shop

Chương trình OCOP không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn thúc đẩy việc đổi mới bao bì, một yếu tố quan trọng trong việc gia tăng giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Nhờ sự hỗ trợ của OCOP, nhiều địa phương đã chú trọng thiết kế bao bì bắt mắt, tiện dụng và thể hiện được bản sắc văn hóa địa phương.

Việc cải tiến bao bì không chỉ giúp sản phẩm chè, đặc biệt là các sản phẩm chè OCOP, dễ dàng tiếp cận với người tiêu dùng trong nước mà còn nâng cao khả năng xuất khẩu, tạo sự khác biệt và tăng sức hấp dẫn trên thị trường quốc tế. Bao bì được thiết kế hiện đại, dễ nhận diện giúp sản phẩm dễ dàng nổi bật trong các kênh phân phối và trên các nền tảng thương mại điện tử.

Song song với đó, các tỉnh cũng tổ chức nhiều hội chợ OCOP thường niên, tạo điều kiện cho các sản phẩm chè địa phương tiếp cận thị trường thành thị, mở rộng mạng lưới phân phối đến các siêu thị, điểm du lịch và trạm dừng nghỉ trên cao tốc. Các tỉnh như Thái Nguyên, Yên Bái và Sơn La còn đưa sản phẩm chè OCOP tham gia các hội chợ quốc tế, góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu và mang về nguồn thu ngoại tệ đáng kể.

Phát triển vùng nguyên liệu gắn với OCOP

Khát vọng nâng tầm chè Việt từ chương trình OCOP
"Mô hình sản xuất chè xanh an toàn" theo VietGAP tại Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: Theo DT&PT)

Chương trình OCOP cũng đặt nền móng cho việc phát triển các vùng chè chuyên canh đạt chuẩn VietGAP, hữu cơ và hữu cơ quốc tế. Tuy nhiên, nhiều địa phương vẫn còn gặp không ít khó khăn trong việc nâng cao quy mô và tiêu chuẩn sản xuất. Tại Nghệ An, diện tích chè VietGAP mới chỉ chiếm vài chục hecta, trong khi sản lượng chè búp tươi lên tới gần 80.000 tấn/năm. Giá chè búp tươi tại đây chỉ khoảng gần 6.000 đồng/kg, thấp hơn nhiều so với các tỉnh khác. Tỉnh Lai Châu hiện có hơn 10.500 ha chè, sản lượng trên 58.000 tấn chè búp tươi mỗi năm, song phần lớn vẫn là sản phẩm sơ chế, mẫu mã đơn điệu, chưa đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính.

OCOP giúp các địa phương nhìn rõ hơn những điểm nghẽn trong chuỗi giá trị chè và định hướng đầu tư phát triển giống mới, kỹ thuật canh tác hữu cơ, xây dựng chuỗi liên kết giữa vùng nguyên liệu – chế biến – tiêu thụ một cách bền vững hơn.

Chương trình OCOP đang đóng vai trò như một chất xúc tác quan trọng giúp ngành chè Việt Nam chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang chuyên nghiệp, có thương hiệu và gắn kết chặt chẽ với thị trường. Không chỉ riêng Thái Nguyên, mà nhiều tỉnh như Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Nghệ An… cũng đang từng bước khẳng định chỗ đứng cho sản phẩm chè OCOP của mình, góp phần đưa chè Việt vươn xa hơn trên bản đồ nông sản quốc tế.

Tiến Kiên