Các chuyên gia cho rằng, việc nhà đầu tư nước ngoài bán ròng gồm 2 lý do. Thứ nhất, việc bán ròng gần đây khác với 2021. Gần đây họ rút vốn từ một số quỹ có tính chiến lược dài hạn chứ không phải ngắn hạn, và họ sẽ trở lại sớm nếu kinh tế Việt Nam phục hồi. Thứ hai, bên cạnh NĐT nước ngoài bán ròng là việc mua vào mạnh của NĐT cá nhân, ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch.
Không gian còn lại cho lạm phát không nhiều
Thông tin tại Toạ đàm trực tuyến với chủ đề "Đầu tư vào vàng, chứng khoán hay bất động sản nửa cuối năm?" mới đây, ông Trần Ngọc Báu – CEO CTCP Dữ liệu và Công nghệ tài chính WiGroup cho biết, sản xuất toàn cầu đã giảm từ 2022 đến giờ, vẫn đang trong giai đoạn (phase) thu hẹp.
Từ tháng 4/2024, mức độ suy giảm tăng trở lại, ngày càng cách xa mốc 50 hơn. PMI suy giảm mạnh nhất có lẽ đến từ châu Âu, tiếp đến là Mỹ. Trong khi đó, PMI khu vực dịch vụ có sự mở rộng, hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, có một vấn đề là trong khoảng hai tháng gần đây, khu vực dịch vụ tại một số nền kinh tế lớn như Mỹ đã gần như bước vào giai đoạn suy giảm. PMI sản xuất và dịch vụ của nhiều nền kinh tế đều yếu đi sau một giai đoạn phục hồi, là động lực cho tăng trưởng kinh tế.
"Về câu chuyện lạm phát, cả Mỹ, châu Âu, Nhật bản đề đã có lạm phát giảm nhanh, đi về vùng mục tiêu 2%. Gần đến 2% thì đà giảm chững lại một chút. Hiện tại đang là cuộc tranh đấu giữ tăng trưởng kinh tế và kiểm soát giá cả. Còn Trung Quốc thì sau một giai đoạn giảm phát, đã phải có các gói kích thích hỗ trợ nền kinh tế, nới lỏng chính sách và lạm phát đã lên trên 0%. Tuy nhiên, nền kinh tế Trung Quốc vẫn khá là mong manh. Tóm lại, có thể thấy là lạm phát đang về lại mục tiêu, cách mục tiêu khoảng 0,3 - 0,4%, áp lực nhẹ đi nhiều so với cuối năm ngoái." Ông Báu chia sẻ.
Nguồn: WiGroup.
Với các dữ liệu thống kê đo lường đã cho thấy xác suất kinh tế toàn cầu suy thoái. Chúng ta đã nghe tới từ suy thoái rất nhiều nhưng thực ra trong giai đoạn cuối năm ngoái và đầu năm nay nó đang ở trạng thái phục hồi tích cực. Đến giờ đang có một làn gió ngược thổi vào kinh tế toàn cầu.
Theo ông Báu, áp lực cho suy thoái toàn cầu giảm rất nhanh trong một năm vừa qua, chỉ đến vài tháng qua mới gặp một số áp lực. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu như vậy, các ngân hàng trung ương (NHTW) lớn đã có định hướng điều hành chính sách tiền tệ ở mảng định tính và định lượng. Ngoại trừ Fed và BoE thì hầu như các NHTW lớn đã bắt đầu giảm lãi suất trong mấy tháng vừa qua.
Nếu nhìn thống kê thì trong hai tháng nay, tỷ trọng số ngân hàng trung ương toàn cầu giảm lãi suất chiếm 50% tổng quy mô kinh tế toàn cầu.
Nếu xét về yếu tố định lượng, đang có sự phân hóa giữa các quốc gia. Fed bắt đầu thắt định lượng (QT) từ khoảng đầu 2022, đến nay đã bán ra 2.000 tỷ USD. Châu u cũng đang trong quá trình này. Nhật Bản sau khi thu hẹp thì gặp khó khăn tỷ giá, không còn thắt chặt nữa, trong khi PBOC thì tiếp tục nới lỏng, mở rộng quy mô tổng tài sản.
Về thị trường trong nước, ông Báu cho biết: "Tại Việt Nam hai vấn đề được thị trường quan tâm hiện nay là lạm phát và tỷ giá. Chúng ta có một chút áp lực tỷ giá khi mục tiêu mất giá đặt ra là 4 - 4,5%.Lạm phát so với cùng kỳ năm trước (YOY) đang ở mức 4,4% do áp lực từ giáo dục, dịch vụ y tế, ăn uống và nhà ở. Mức lạm phát bình quân thì đang là 4,1%.
Con số này cho thấy không gian còn lại cho lạm phát không nhiều. Trong những tháng tới vẫn còn nhiều thứ có thể tiếp tục tăng giá. Nhưng trên quan điểm cá nhân tôi, CPI của năm 2024 vẫn sẽ đạt mục tiêu do mức nền năm ngoái CPI đã khá cao."
Cùng với đó, tỷ giá vẫn đang chịu áp lực. Ngân hàng thương mại (NHTM) đang bán ra USD ở mức bị kẹp bởi chính sách. Nhưng trên thị trường tự do, giá USD lại cao hơn. Do đó, NHNN đã phải can thiệp và hỗ trợ NHTM.
Nguồn: WiGroup.
Đến nay, NHNN đã bán ra khoảng 6 tỷ USD. Theo ước tính hiện còn 83 tỷ USD. Tương ứng còn 2,6 -2,7 tháng nhập khẩu. Đây cũng là cảnh báo dự trữ ngoại hối và tỷ giá. Áp lực là có.
Một yếu tố nữa, nếu duy trì nới lỏng trong trạng thái thắt chặt toàn cầu thì áp lực tỷ giá là khó tránh khỏi. Vậy lựa chọn kiểu gồng theo cung USD ra hay tăng lãi suất?
Nếu cung USD ra thì dự trữ ngoại hối căng thẳng, dòng tiền trong nước căng thẳng hơn bởi bơm USD ra là hút VND vào, không có kênh nào trung hòa cả.
Nếu không bơm USD thì phải tăng lãi suất. Đã bơm USD thì có tăng lãi suất hay không?
Lãi suất bao gồm thị trường 1 và thị trường 2. Hiện lãi suất đã tăng trên TT1 và tăng một nửa thị trường 2 rồi chỉ có điều lãi suất chính sách chưa tăng thôi. Thị trường đang lo ngại lãi suất chính sách sẽ tăng.
Vậy nếu như thay đổi lãi suất chính sách, thì có tăng nhiều hay không, tăng ít hay nhiều, rủi ro là gì. Về cơ bản, gồng ở cả tỷ giá là lãi suất, là biến số đến các kênh đầu tư. Biến số này phụ thuộc không chỉ vào Việt Nam và còn những nền kinh tế khác.
Vì sao khối ngoại rút ròng mạnh?
Chia sẻ tại tọa đàm, ông Nguyễn Thế Minh – Giám đốc Phân tích CTCK Yuanta Vietnam đánh giá, đây không phải câu chuyện mới, thời điểm trước năm 2018, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài chiếm xấp xỉ trên 25% các cổ phiếu niêm yết trên cả ba sàn. Thời điểm hiện tại, tỷ lệ này đã giảm xuống dưới mức 18%, cụ thể khoảng 15%, từ đó có thể thấy tỷ lệ sở hữu nước ngoài đã giảm rất nhiều sau nhiều năm.
Nhìn lại lịch sử, giai đoạn 2020 – 2021, áp lực bán ròng của nhà đầu tư nước ngoài đã xảy ra với tổng giá trị bán ròng hai năm này đạt hơn 80.000 tỷ, đến năm 2022, họ có động thái mua ròng trở lại, tuy nhiên đến 2023 và 2024 tiếp tục bán ròng. Đặc điểm 6 tháng đầu năm nay là kỳ bán ròng mạnh nhất trong lịch sử với tổng giá trị bán ròng đã gần bằng cả năm 2021.
Thống kê những thời điểm nhà đầu tư nước ngoài bán ròng thị trường thường có diễn biến khá tích cực, VN-Index tăng điểm khá tốt, đặc biệt giai đoạn 2020 – 2021. Viễn cảnh này không chỉ xảy ra ở Việt Nam, trên thế giới như Mỹ, thông thường giá trị giao dịch các quỹ tổ chức tại thị trường Mỹ chiếm xấp xỉ trên 55%, tuy nhiên từ sau năm 2020, tỷ lệ này đã bị giảm sút. Đó là một xu hướng chung, dịch chuyển từ nhà đầu tư tổ chức sang nhà đầu tư cá nhân.
Nguồn: WiGroup.
Đến năm 2022 thì họ quay lại mua ròng. Tuy nhiên sau đó vào giữa năm 2022 xuất hiện một đợt thị trường chứng khoán giảm mạnh, đến thời điểm năm 2023 – 2024 thị trường chớm nở hồi phục trở lại thì nhà đầu tư nước ngoài lại bán ra khá mạnh và xu hướng này kéo dài cho đến nay.
Có vẻ động thái của NĐT nước ngoài không hẳn đối nghịch với thị trường hiện nay, tôi nghĩ là có hai lý do cho điều này. Một là tỷ lệ sở hữu của họ đã bị giảm đáng kể. Thứ hai là tỷ trọng giao dịch trung bình hàng ngày của nhà đầu tư ngoại từ năm 2020 đến nay đã giảm khá nhiều dưới mức 10% giá trị giao dịch trung bình của thị trường, đến thời điểm hiện tại đã giảm còn khoảng 6 – 7% giá trị trung bình hàng ngày như vậy rõ ràng một lượng nhà đầu tư dòng tiền lớn của nhà đầu tư cá nhân trong nước đã góp gần “cân lại” lực bán của khối ngoại và dẫn dắt thị trường.
Đối với việc bán ra của nhà đầu tư nước ngoài, tôi nghĩ rằng sức ảnh hưởng của họ về mặt định lượng là không có ảnh hưởng quá lớn đối với thị trường. Dù vậy, nhà đầu tư cá nhân có thể chịu ảnh hưởng về mặt tâm lý.
Họ có thể sẽ đặt câu hỏi về rủi ro của thị trường, kinh tế Việt Nam có vấn đề đáng ngại nào không dẫn tới việc khối ngoại liên tiếp bán ròng mạnh mẽ như vậy? Đồng thời điều này cũng khiến nhà đầu tư cá nhân có tâm lý giao dịch thận trọng hơn.
Nguồn: WiGroup.
Trong khi đó, ông Huỳnh Hoàng Phương, Chuyên gia Tài chính, Cố vấn Quản lý gia sản CTCP FIDT: Về việc NĐT nước ngoài bán ròng gồm 2 ý. Thứ nhất, việc bán ròng gần đây khác với 2021. Gần đây họ rút vốn từ một số quỹ có tính chiến lược dài hạn chứ không phải ngắn hạn, và họ sẽ trở lại sớm nếu kinh tế Việt Nam phục hồi.
Thứ hai, bên cạnh NĐT nước ngoài bán ròng là việc mua vào mạnh của NĐT cá nhân, ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch. Do đó, theo quan điểm cá nhân, khi thị trường điều chỉnh thì khả năng rớt điểm là rất lớn, điều đã chứng kiến trong năm 2022. Tầm quan trọng của NĐT ngoại đã giảm so với trước dịch.
Hồng Quang