Theo nhận định của chuyên gia SSI Research, PVS, PVB và PVD là những doanh nghiệp được hưởng lợi đầu tiên của đại dự án này, vì những doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với quá trình xây dựng và khoan thượng nguồn để khai thác dòng khí đầu tiên vào năm 2026 từ siêu dự án dầu khí Lô B - Ô Môn.
Siêu dự án dầu khí tiến triển
Theo báo cáo phân tích Tác động của dự án Lô B – Ô Môn đến các cổ phiếu ngành dầu khí vừa công bố của SSI Research, Lô B – Ô Môn là chuỗi dự án phát triển, khai thác và vận chuyển khí từ các mỏ khí thượng nguồn tại Lô B&48/95 và Lô 52/97 đến các nhà máy nhiệt điện khí ở hạ nguồn. Quyết định đầu tư cuối cùng (FID) cho dự án dự kiến sẽ được phê duyệt vào tháng 6/2023 và dòng khí đầu tiên dự kiến được khai thác vào năm 2026.
Dự án dự kiến sẽ cung cấp tổng cộng 3,95 nghìn tỷ bộ khối, tương đương với khoảng 102 tỷ m3, và 12,65 triệu tấn thùng condensate, trong vòng đời 23 năm. Tổng giá trị đầu tư cho hợp phần thượng nguồn (bao gồm Chi phí xây dựng cơ bản, chi phí vận hành và chi phí hủy mỏ) ước tính khoảng 17 tỷ USD.
Sau khi hoàn thành, dòng khí từ các mỏ Lô B sẽ được vận chuyển qua đường ống dẫn khí Lô B – Ô Môn đến các doanh nghiệp tiêu thụ hạ nguồn, trong đó có 4 nhà máy điện Ô Môn tại tỉnh Cần Thơ, với tổng nhu cầu khí cho tổ hợp khoảng 5 tỷ m3/năm, chia cho 4 nhà máy (Ô Môn 1, 2, 3, 4). Công suất điện của 4 nhà máy điện Ô Môn là 3,8 GW, cung cấp khoảng 10,2% công suất của các nhà máy điện khí trong nước vào năm 2030.
Theo Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia VIII (PDP8) vừa được phê duyệt, tổng công suất của các nhà máy điện khí được đặt mục tiêu tăng 16% mỗi năm từ 9 GW trong năm 2020 lên 37,3 GW vào năm 2030 (bao gồm 14,93 GW sử dụng khí trong nước và 22,5 GW sử dụng LNG nhập khẩu). Do Chính phủ đang hướng tới các nguồn năng lượng sạch hơn để đáp ứng nhu cầu điện Quốc gia và thực hiện các cam kết COP26, tỷ trọng các nhà máy điện khí trên tổng công suất trong nước dự kiến sẽ tăng gần gấp đôi, từ 13% trong năm 2020 lên 25% vào năm 2030.
Giá bán khí tại miệng giếng và giá vận chuyển cho Lô B- Ô Môn ước tính lần lượt giao động khoảng 12 USD và 1,90 USD/MMBTU vào năm 2027, với mức tăng hàng năm từ 2,0%-2,5%/năm trong tương lai. Với mức giá này, dự án thượng nguồn tính theo USD dự kiến sẽ tạo ra tổng doanh thu khoảng 50 tỷ USD trong suốt thời gian hoạt động, trong khi tổng doanh thu vận tải của dự án trung nguồn ước đạt hơn 7 tỷ USD.
Về lộ trình phát triển dự án, dự án thượng nguồn của Lô B trong các giai đoạn sẽ cần 47 giàn đầu giếng (WHP), 5 giàn thu gom (Hub) và 911 giếng khai thác để đảm bảo lượng khí hàng ngày là 13,7 triệu m3, hay 5 tỷ m3/năm.
Giai đoạn đầu tiên của dự án bao gồm việc xây dựng một giàn xử lý trung tâm (CPP), một FSO có sức chứa 350.000 thùng, một khu sinh hoạt (LQ), một WHP và 3 hub, một đường ống nội bộ với các hạ tầng liên quan và khoan khoảng 80 giếng, mục tiêu đến cuối năm 2026 sẽ khai thác dòng khí đầu tiên.
Sau khi các hợp đồng EPCI được trao thầu (dự kiến trong vài tháng tới), sẽ mất khoảng 2-3 năm để triển khai/lắp đặt CPP, LQ, Hub, WHP và hệ thống đường ống nội bộ cũng như các hạ tầng khác. Chiến dịch khoan giếng dự kiến sẽ bắt đầu muộn hơn 2 năm so với các hợp phần trên và mất khoảng 18 tháng để hoàn thành.
Sau khi đi vào hoạt động, có khả năng sẽ có khoảng 2-3 giàn đầu giếng và HUB tiếp tục được lắp đặt và đưa vào vận hành mỗi năm.
Kỳ vọng nhóm cổ phiếu dầu khí sẽ kéo dài đà hồi phục
SSI cho rằng các công ty dầu khí được hưởng lợi nhiều nhất từ dự án Lô B bao gồm GAS, PVS, PVD, PVC, PVB và PXS. Các công ty cung cấp các dịch vụ liên quan đến xây dựng và khai thác các dự án thượng nguồn và trung nguồn. Chi phí đầu tư và chi phí khoan của dự án thượng nguồn ước tính rơi vào khoảng 9-9,5 tỷ USD trong suốt vòng đời dự án, có tính đến trượt giá 2%/năm từ năm 2016, theo đó khoản đầu tư trong giai đoạn đầu tiên (từ FID đến thời điểm khởi công) ước tính khoảng 2,4 tỷ USD. Ngoài ra, vốn đầu tư cho các dự án trung nguồn cũng rất lớn ở mức 1,3 tỷ USD. GAS sẽ giám sát việc vận chuyển khí từ các mỏ đến các nhà máy điện sau khi khởi công.
PVS, PVB và PVD là những doanh nghiệp được hưởng lợi đầu tiên của đại dự án này, vì những doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với quá trình xây dựng và khoan thượng nguồn để khai thác dòng khí đầu tiên vào năm 2026. PVS và PVD được kỳ vọng sẽ tạo ra nguồn doanh thu đáng kể trong vòng đời của dự án dựa trên quy hoạch phát triển dầu khí, trong khi PVB sẽ ghi nhận backlog liên quan đến dự án đến năm 2025 (đường ống phải sẵn sàng hoạt động trước khi khai thác dòng khí đầu tiên).
Như vậy, dựa trên giả định FID sẽ được phê duyệt vào cuối năm 2023, PVS và PVD có thể đạt CAGR lợi nhuận ròng giai đoạn 2023-2026 lần lượt là 15,9% và 26%, trong đó backlog từ dự án Lô B sẽ là mấu chốt cho tốc độ tăng trưởng này. Trong khi đó, trong giai đoạn 2023-2026, GAS có thể vẫn đạt tốc độ CAGR lợi nhuận ròng tương đối ổn định do sẽ không có nguồn khí mới đáng kể nào đủ để bù đắp cho sự sụt giảm của các mỏ hiện tại.
Ngoài ra, SSI cũng lưu ý các rủi ro đầu tư chính bao gồm: FID chậm phê duyệt và Các dự án Lô B diễn ra không đúng tiến độ; rủi ro địa chính trị; và biến động giá dầu. Theo quan sát trong các giai đoạn trước, giá cổ phiếu dầu khí có tương quan cao với giá dầu. Tuy nhiên, bất chấp giá dầu giảm 15% so với đầu năm, giá cổ phiếu nhóm dầu khí (đặc biệt là những doanh nghiệp thượng nguồn gồm: PVD, PVS, PXS, PVB) vẫn tăng từ 35% - 70%, cao hơn so với chỉ số VNIndex.
Do đó, SSI cho rằng thị trường đã có cái nhìn dài hạn hơn về các hoạt động E&P tiềm năng và backlog trong tương lai thay vì giao dịch dựa trên biến động giá dầu trong ngắn hạn.
Trung Anh