Tháng 3/2022, EU đề ra Chiến lược của ngành dệt may tuần hoàn và bền vững nhằm đảm bảo đến năm 2030. Để đáp ứng với những yêu cầu của EU và cũng là xu thế toàn cầu, đòi hỏi ngành dệt may Việt Nam phải chuyển đổi sang hướng phát triển xanh, bền vững nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm và giá trị trong chuỗi.
Châu Âu là thị trường của quần áo bền vững và tuần hoàn
Châu Âu là một trong những thị trường quan tâm nhất đến hàng may mặc bền vững. EU nhận thức về tầm quan trọng của tính bền vững rất cao và các sáng kiến mới liên tục xuất hiện, được thúc đẩy bởi tất cả các bên bao gồm người tiêu dùng, nhà bán lẻ, thương hiệu, chính phủ và các tổ chức phi chính phủ (NGO).
Khảo sát của Eurotex.eu năm 2022. 71% người tiêu dùng cho biết họ quan tâm đến tính bền vững khi mua sản phẩm may mặc, nhưng chỉ 3% trả thêm tiền cho những lần mua hàng bền vững hơn.
Ngành công nghiệp Dệt may là ngành gây ô nhiễm môi trường lớn thứ 5 ở EU và thứ 3 về áp lực lên nguồn nước và đất.
Kế hoạch hành động về nền kinh tế tuần hoàn của EU đã xác định ngành dệt may là ngành ưu tiên trong nỗ lực hướng tới tính bền vững và tuần hoàn của EU. Các sáng kiến pháp lý ở cả cấp quốc gia và châu Âu nhằm thúc đẩy tính bền vững trong ngành dệt may, bao gồm Chiến lược của EU cho ngành Dệt may bền vững và tuần hoàn.
Ngày càng nhiều các thương hiệu đặt tính bền vững làm trung tâm cho thương hiệu và sản phẩm của họ. Đồng thời, các thương hiệu lớn hơn đang ngày càng bị buộc phải chịu trách nhiệm về các hành động của họ trong chuỗi cung ứng. Do đó, việc sử dụng ngày càng nhiều hơn các vật liệu bền vững và/hoặc các mô hình kinh doanh bền vững, bao gồm đăng ký, cho thuê, tái chế và tái sử dụng.
Ngày càng có nhiều người tiêu dùng trẻ, cao cấp ở các phân khúc hiện đại, thời thượng sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho các sản phẩm được sản xuất bền vững hơn (theo Forbes, 54% Thế hệ Z cho biết họ sẵn sàng trả thêm 10% trở lên cho các sản phẩm bền vững so với con số với 23% ở các thế hệ trước đây).
Tháng 3/2022, EU đề ra Chiến lược của ngành dệt may tuần hoàn và bền vững nhằm đảm bảo đến năm 2030, các sản phẩm dệt may đưa vào thị trường EU “có tuổi thọ lâu dài, có thể tái chế và phần lớn được làm từ sợi tái chế”. Hàng loại các chính sách mới được EU ban hành mới hoặc thay thế như eco-design (Thiết kế xanh) cho các sản phẩm bền vững, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, Green claims (Bồi hoàn xanh), deforestation (Chống phá rừng), CBAM....
Xu hướng thay đổi của thị trường hàng may mặc châu Âu
Mọi thay đổi có thể là cơ hội hoặc là thách thức, đặc biệt ngành may mặc là ngành luôn thay đổi, luôn đổi mới theo các xu hướng mới. Ngành may mặc tạo ra, diễn giải và đi theo những xu hướng mới. Cần tìm hiểu xu hướng thay đổi của thị trường may mặc châu Âu, sử dụng các xu hướng toàn cầu để làm lợi thế cho mình, từ đó tìm ra cách thức phù hợp phát triển hơn nữa thị trường này cho hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam.
Liên minh Châu Âu (EU) tin rằng việc chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn, bền vững sẽ kích thích khả năng cạnh tranh, đổi mới, tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm. Do đó, EU đang thiết kế luật để giúp quá trình chuyển đổi này diễn ra. EU muốn châu Âu trở thành nền kinh tế trung hòa khí hậu đầu tiên và tăng mức sử dụng vật liệu tuần hoàn lên gần 25% vào năm 2030.
Để duy trì tính cạnh tranh trong ngành may mặc trong tương lai, điều quan trọng là các quy trình sản xuất phải ít phụ thuộc hơn vào chi phí lao động thủ công thấp và áp dụng tự động hóa. Tương lai của ngành sản xuất hàng may mặc nằm ở các đơn vị sản xuất thông minh, tuần hoàn, hoàn toàn tự động, hoạt động với tác động tối thiểu đến xã hội và môi trường. Các đơn vị này sẽ được hướng dẫn bởi dữ liệu thị trường và đáp ứng sự phát triển theo yêu cầu. Nguyên liệu đầu vào sẽ dựa trên dòng thải của thị trường để giảm thiểu tác động đến môi trường.
Người mua châu Âu cũng đang hướng tới các yêu cầu khắt khe hơn về tính bền vững. Nhiều yêu cầu về tính bền vững về xã hội và môi trường đã trở thành luật và nếu không tuân thủ, bạn sẽ không thể xuất khẩu hàng may mặc sang Châu Âu. Đồng thời, tính bền vững yêu cầu các công ty phải chịu rất nhiều trách nhiệm. Một số người mua tập trung chủ yếu vào tính minh bạch của chuỗi cung ứng và giảm thiểu lượng khí thải carbon. Những người khác đầu tư chủ yếu vào điều kiện làm việc và tính tuần hoàn. Một số công ty cố gắng làm tất cả. Các khách hàng châu Âu tùy thuộc vào chiến lược bền vững để lựa chọn các nhà cung ứng hàng hoá.
Ngày càng nhiều người Châu Âu trẻ sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn cho các sản phẩm sản xuất bền vững môi trường
Chiến lược cốt lõi của EU nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của ngành may mặc là một nền kinh tế tuần hoàn và minh bạch hoàn toàn. Mục tiêu là một hệ thống khép kín trong đó hàng dệt và sợi giữ được giá trị của chúng càng lâu càng tốt và giảm thiểu chất thải. Điều này sẽ đòi hỏi phải tái chế, tân trang, tái sử dụng và xem xét lại vòng đời của quần áo. Hệ thống lý tưởng sẽ có tác động tối thiểu đến môi trường, hoàn toàn minh bạch, tránh sử dụng các đầu vào không tái tạo và đảm bảo tôn trọng quyền của người lao động, bao gồm cả mức lương đủ sống.
Các yêu cầu bắt buộc về tính bền vững đã ngày càng khắt khe hơn trong nhiều thập kỷ, nhưng gần đây, chính phủ EU và các quốc gia đã tăng tốc độ và phạm vi của các luật mới này. Dựa trên các quy tắc hiện hành về an toàn sản phẩm, sử dụng hóa chất (REACH), ghi nhãn và quyền sở hữu trí tuệ, các quy định nhập khẩu mới liên quan đến các lĩnh vực như Thẩm định chi tiết, Báo cáo, giảm lượng khí thải carbon, chống phá rừng (đối với da), Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất , quyền sửa chữa cho người tiêu dùng cuối, việc sử dụng (có chủ ý) vi nhựa và 'tẩy xanh'.
Lưu ý rằng một số quy định mới này vẫn chỉ áp dụng cho các công ty lớn hơn (CSDDD và CSRD), và một số quy định chưa áp dụng cho ngành dệt may (CBAM đối với lượng khí thải carbon). Luật mới về vi nhựa chưa áp dụng cho việc phát thải vi nhựa từ quần áo làm bằng sợi tổng hợp. Tuy nhiên, định hướng chung rất rõ ràng: EU và chính phủ các nước muốn thắt chặt quyền kiểm soát đối với toàn bộ chuỗi giá trị: từ sản xuất đến sử dụng và cuối vòng đời. Các công ty EU phải tuân thủ và với tư cách là nhà cung cấp, bạn cũng phải tuân thủ.
Các luật mới của EU sau đây sẽ định hình ngành may mặc:
Thỏa thuận xanh của EU- EGD: Sáng kiến này nhằm đạt được sự trung lập về khí hậu và thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn. Nó bao gồm các chính sách và hành động khác nhau để thúc đẩy các hoạt động bền vững trong các lĩnh vực.
Mở rộng Trách nhiệm của Nhà sản xuất (EPR, 2023): Luật này quy định các nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm quản lý và giảm thiểu tác động môi trường của sản phẩm trong suốt vòng đời của chúng. Họ được yêu cầu thiết lập các hệ thống thu gom, tái chế và xử lý sản phẩm nhằm khuyến khích sự chuyển đổi theo hướng sản xuất và tiêu dùng bền vững hơn.
Chỉ thị Báo cáo Phát triển Bền vững của Doanh nghiệp (CSRD, 2023): CSRD áp đặt các yêu cầu báo cáo chặt chẽ hơn đối với các công ty, bao gồm cả các công ty trong lĩnh vực may mặc, về hiệu quả hoạt động của họ theo tiêu chí 'ESG' (các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị). Chỉ thị này nhằm mục đích nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong các nỗ lực phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Luật Chống Tẩy Xanh (2023): Luật Chống Tẩy Xanh chống lại các tuyên bố sai lệch hoặc sai lệch về môi trường của các công ty. Nó tìm cách đảm bảo rằng các tuyên bố liên quan đến tính bền vững là chính xác, có căn cứ và minh bạch, từ đó thúc đẩy niềm tin của người tiêu dùng và thúc đẩy trách nhiệm thực sự đối với môi trường.
Dấu chân môi trường của sản phẩm (2024): Đạo luật sắp ra mắt này nhằm mục đích thiết lập một phương pháp tiêu chuẩn hóa để đánh giá và ghi nhãn tác động môi trường của các sản phẩm (quần áo). Nó nhằm mục đích cung cấp cho người tiêu dùng thông tin đáng tin cậy để họ có thể đưa ra quyết định mua hàng bền vững.
Hộ chiếu Sản phẩm Kỹ thuật số (2023/2027): Sáng kiến Hộ chiếu Sản phẩm Kỹ thuật số nhằm mục đích nâng cao tính minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc trong suốt vòng đời sản phẩm bằng cách thu thập và chia sẻ thông tin sản phẩm có liên quan ở dạng kỹ thuật số. Điều này sẽ cho phép người tiêu dùng và các bên liên quan truy cập thông tin chi tiết toàn diện về tác động môi trường, thuộc tính bền vững và nguồn gốc của sản phẩm.
Tiếp cận thị trường dệt may EU trong bối cảnh mới
EU là thị trường xuất khẩu truyền thống lớn thứ 2 của Việt Nam khi chiếm 10-15% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành. Với Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (Hiệp định EVFTA),100% hàng dệt may của Việt Nam sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0% sau tối đa 7 năm kể từ khi có hiệu lực. Đây là động lực lớn cho ngành dệt may tăng thị phần xuất khẩu sang thị trường này.
EU là thị trường lớn và hấp dẫn cho ngành dệt may, với kim ngạch nhập khẩu từ các nước thứ ba năm 2023 là 115 tỷ eur. Trong đó, Việt Nam xuất khẩu 4,5 tỷ euro, đứng thứ 6 sau Trung quốc, Bangladet, Thổ Nhỹ kỳ, Ấn độ, Pakistan và chiếm 4,1 % thị phần. Do vậy, dư địa cho hàng Việt Nam mở rộng thị phần còn rất lớn.
Trung Quốc tăng cường tập trung vào sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn trong lĩnh vực may mặc và các ngành sản xuất khác. Các công ty nhập khẩu EU thấy họ đã quá phụ thuộc vào Trung Quốc, do đó đang cố gắng đa dạng hóa nguồn cung ứng. Trong khi đó, Băngladet là nước xuất khẩu lớn thứ 2 sang EU, những tháng vừa qua đã trải qua biến động chính trị, nhiều nhà máy phải đóng cửa . Đây là cơ hội cho sự chuyển dịch đầu tư và các đơn hàng sang các nước phát triển khác. Việt nam cần đẩy mạnh năng lực thể tận dụng các cơ hội từ những đối thủ cạnh tranh lớn này.
Bên cạnh những thuận lợi, dệt may Việt Nam cũng gặp khó khăn khi xuất khẩu vào thị trường này khi EU thực hiện chiến lược cho ngành dệt may tuần hoàn và bền vững, tương lai sẽ là mục tiêu chung của ngành dệt may toàn cầu, nhiều quy định về phát triển xanh ra đời áp dụng cho ngành dệt may nhằm tạo ra dòng thời trang bền vững, sản phẩm có thể tái chế, tuần hoàn.
Quy tắc xuất xứ “từ vải” trong Hiệp định EVFTA yêu cầu các công ty dệt, nhuộm trong nước phải đẩy mạnh năng lực sản xuất để có thể giải quyết được điểm nghẽn về tăng tỷ lệ nội địa hóa, chủ động nguồn nguyên liệu.
Theo Hiệp hội dệt may, các doanh nghiệp dệt may hiện đang thiếu ba nguồn lực: nguồn lực về công nghệ quản trị; nguồn lực công nghiệp thời trang phát triển mẫu để chủ động; nguồn lực đội ngũ làm thị trường, những người tìm kiếm nguồn hàng và lựa chọn nhà cung cấp phù hợp để đi đến thỏa thuận, ký kết hợp đồng mua hàng cũng như tìm kiếm nguồn nguyên liệu.
Công nghiệp thời trang Việt Nam hiện đang thiếu nguyên phụ liệu lớn từ trong nước, hiện vải dệt trong nước chỉ đáp ứng 20-30% nhu cầu. Do nhận thức chưa đúng, nhiều địa phương đã đưa ra những rào cản trong kêu gọi đầu tư vào ngành dệt, nhuộm. Đây là một thách thức lớn, bởi nếu ngành dệt may không có nguyên liệu trong nước, không chủ động nguồn nguyên liệu mà phụ thuộc vào nhập khẩu, thì sẽ bỏ phí cơ hội vô cùng lớn từ các hiệp định thương mại với thuế suất bằng 0 do không có vải xuất xứ từ Việt Nam.
Trong bối cảnh mới của thị trường dệt may EU, Thương vụ Việt Nam tại Bỉ, Luxembourg và EU khuyến nghị cơ quan quản lý Nhà nước, cần triển khai các biện pháp thực hiện Hiệp định EVFTA liên quan đến phát triển bền vững và có kế hoạch kiểm soát tác động đến môi trường, lao động để có thể tiếp tục duy trì lợi thế từ EVFTA. Nhà nước cũng cần chú trọng đến chương trình xanh hóa ngành dệt may Việt Nam để đảm bảo được các vấn đề về môi trường được nêu trong thỏa thuận của EVFTA. Như vậy, sẽ giúp ngành dệt may của Việt Nam nhanh chóng đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của EU.
Để phát triển bền vững, từ nay đến năm 2030, ngành dệt may sẽ chuyển dần từ trọng tâm phát triển nhanh sang trọng tâm phát triển bền vững, kinh doanh tuần hoàn; hoàn thiện chuỗi giá trị trong nước và tham gia ở vị trí có giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Xuất khẩu và tiêu thụ trong nước bằng các thương hiệu riêng mang tầm khu vực và thế giới.
Giải pháp chính của ngành dệt may sẽ đến từ việc đầu tư cho phát triển bền vững, phát triển khoa học công nghệ và nguồn nhân lực. Trong đó, thu hút các dự án dệt, nhuộm hoàn tất công nghệ cao vào các khu công nghiệp; đầu tư sản xuất các loại nguyên liệu mới có nguồn gốc tự nhiên, thân thiện môi trường; chuyển đổi số, đầu tư phát triển ngành thời trang dệt may.
Chính phủ phải đồng hành cùng doanh nghiệp để xây dựng “chiến lược xanh hóa”, đầu tư các nhà máy có hạ tầng đạt các chuẩn mực đánh giá của các nhãn hàng như môi trường làm việc, nước thải, khí thải, năng lượng tái tạo bằng điện mặt trời áp mái...
Bên cạnh đó, cơ quan quản lý chức năng của Việt Nam cần đề nghị EU hỗ trợ kỹ thuật và hướng dẫn để đáp ứng các quy định mới của EU. Việc chủ động thích ứng với các quy định mới với sự hỗ trợ của EU sẽ giúp Việt Nam tranh thủ được vị trí tốt trên thị trường EU.
Ngoài việc hợp tác chặt chẽ với các nhà hoạch định chính sách của EU để giúp định hình phạm vi ban hành luật sắp tới, thì cũng cần tập trung phát triển các khuôn khổ đầu tư và lập pháp để hỗ trợ quá trình chuyển đổi của ngành. Triển khai cơ chế cân bằng carbon với việc cung cấp các tín chỉ carbon để doanh nghiệp có thể kinh doanh, khuyến khích áp dụng năng lượng tái tạo tại các nhà máy. Cơ hội từ EVFTA trong ngắn và trung hạn là rất lớn, do vậy Việt Nam cần xem xét tập trung đẩy mạnh xúc tiến thương mại tại thị trường EU.
Về phía doanh nghiệp, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần chủ động cập nhật thông tin về quy tắc xuất xứ khi tham gia EVFTA. Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong EVFTA không chỉ có thêm quy định mới mà cách diễn đạt các tiêu chí xuất xứ cũng khác so với các Hiệp định mà Việt Nam đang tham gia. Do vậy, để có thể áp dụng một cách chuẩn xác, doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần phải hiểu rõ và hiểu đúng quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa trong EVFTA.
Các công ty ngoài EU sẽ là người thực hiện phần lớn các chinh sách trong Chiến lược Dệt may của EU, thiết lập giấy phép hoạt động mới cho cả nhà bán lẻ, thương hiệu và nhà cung cấp: nếu không tuân thủ, bạn không thể bán hàng trên thị trường EU hoặc cung cấp cho các công ty tuân thủ. Do vậy, ngành dệt may Việt nam cần quan tâm đến những điều chỉnh hoạt động cần thiết phù hợp với các tiêu chuẩn xã hội và môi trường ngày càng cao trước thời hạn tuân thủ chính thức của EU.
Doanh nghiệp dệt may cần chủ động nguồn cung nguyên phụ liệu đặc biệt là nguyên phụ liệu chất lượng cao và thân thiện với môi trường. Với các tiêu chuẩn khắt khe về nguồn gốc, các doanh nghiệp dệt may cần trọng tâm xây dựng các nhà xưởng, máy móc, chủ động nguồn nguyên phụ liệu ngay trong nước để hạn chế việc nhập khẩu nguồn nguyên liệu từ bên ngoài. Nhằm khắc phục vấn đề này, các doanh nghiệp dệt may cần đẩy mạnh đầu tư để hoàn thiện chuỗi cung ứng sản xuất; đặc biệt, hướng tới xây dựng các nhà máy lớn, với dây chuyền sản xuất hiện đại, thay vì phát triển nhỏ lẻ.
Cùng với đó, các doanh nghiệp cần xem xét đầu tư vào nghiên cứu và phát triển để đổi mới các phương pháp thực hành bền vững cũng như đào tạo lực lượng lao động về công nghệ mới. Chuyển đổi dần sang sử dụng năng lượng sạch để đáp ứng yêu cầu về hiệu quả năng lượng của eco-design. Doanh nghiệp cần triển khai nghiên cứu các quy định liên quan và trao đổi với các đối tác tại châu Âu để có kế hoạch chuyển đổi từ sớm và có kế hoạch dài hạn.
Các Hiệp hội cần phát huy vai trò hướng dẫn thực hiện tốt các quy định của EU và phối hợp được các doanh nghiệp trong ngành khai thác thị trường EU trên cơ sở lợi ích lâu dài, bền vững...
Trung Anh