Dù các doanh nghiệp nội đã có sự vươn lên mạnh mẽ trong cuộc chạy đua đầu tư vào hạ tầng logistics, song vẫn còn khoảng cách khá xa giữa doanh nghiệp nội và doanh nghiệp FDI. Nguyên nhân chính là doanh nghiệp FDI có nhiều thế mạnh về tài chính, công nghệ và năng lực quản trị. Trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam đa phần là các công ty logistics quy mô nhỏ và vừa.
Logistics phát triển mạnh nhưng doanh nghiệp nội vẫn yếu thế
Thống kê của Bộ Công Thương cho thấy, trong năm 2022 và 6 tháng đầu năm 2023, ngành dịch vụ logistics của Việt Nam đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, góp phần thực hiện các FTA thế hệ mới.
Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới công bố năm 2023, Việt Nam đứng vị trí thứ 43 trong bảng xếp hạng chỉ số hiệu quả logistics (LPI - Logistics Performance Index), thuộc nhóm 5 nước đứng đầu ASEAN, sau Singapore, Malaysia, Thái Lan và cùng vị trí với Philippines. Tốc độ tăng trưởng thị trường logistics Việt Nam bình quân hàng năm từ 14-16%, đóng góp quan trọng trong việc đưa tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam năm 2022 lên trên 730 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2021.
Cũng theo bảng xếp hạng của Agility 2022, thị trường logistics Việt Nam được xếp hạng thứ 11 trong nhóm 50 thị trưởng logistics mới nổi toàn cầu. Đáng chú ý, tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) giai đoạn 2022 - 2027 của thị trường logistics Việt Nam được dự báo đạt mức 5,5%.
Tốc độ tăng trưởng bình quân đều qua các năm, song thị phần của doanh nghiệp logistics Việt còn khá khiêm tốn so với tiềm năng. Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), thị trường logistics có sự tham gia của hơn 5.000 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics 3PL, trong đó chiếm 89% là doanh nghiệp trong nước, 10% là doanh nghiệp liên doanh và 1% là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cung cấp dịch vụ logistics xuyên quốc gia, với các tên tuổi lớn nằm trong danh sách 50 công ty logistics thế giới lớn nhất như: DHL, Kuehne + Nagel, DSV, DB Schenker...
Không chỉ ấn tượng với con số tăng trưởng, doanh nghiệp logistics ở Việt Nam cũng tăng nhanh về số lượng. Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, đến nay có khoảng trên 3.000 doanh nghiệp vận tải và logistics trong nước, cùng khoảng 25 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới đang hoạt động tại Việt Nam, chủ yếu cung cấp các dịch vụ, từ khâu làm thủ tục vận chuyển hàng hóa cho đến khâu đóng thuế hay thanh toán.
Thị trường logistics ở Việt Nam được xem như “con gà đẻ trứng vàng” cho các chủ đầu tư có tiềm lực mạnh, là những doanh nghiệp toàn cầu hàng đầu về vận chuyển container và logistics.
Các chuyên gia kinh tế dự báo trong thời gian tới, Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển hơn nữa ngành logistics nhờ các đặc điểm địa lý thuận lợi, cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển mạnh mẽ và hàng loạt chính sách thúc đẩy đầu tư từ Chính phủ; đồng thời hoàn toàn có thể trở thành “gà đẻ trứng vàng” cho các chủ đầu tư có tầm nhìn và tiềm lực mạnh.
Thực tế trong những năm gần đây, Việt Nam đã vươn mình trở thành một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất tại châu Á trong 30 năm qua, với mức tăng trưởng GDP đầu người năm 2022 là 4.100 USD. Theo Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến 20/9/2023, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt gần 20,21 tỉ USD, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2022. Điều này cho thấy, Việt Nam vẫn luôn là “ngôi sao sáng” thu hút đầu tư tại Đông Nam Á.
Cho dù các doanh nghiệp trong nước chiếm tỷ lệ lớn nhưng lại chỉ chiếm khoảng 30% thị phần, còn lại thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài. Bởi doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, quy mô hạn chế cả về vốn và nhân lực cũng như kinh nghiệm hoạt động quốc tế, chưa có sự liên kết giữa các khâu trong chuỗi cung ứng logistics và giữa doanh nghiệp dịch vụ logistics với doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Các doanh nghiệp logistics Việt Nam cung cấp chủ yếu là các dịch vụ logistics nội địa như: vận tải nội địa, giao nhận. kho bãi, khai báo thủ tục hải quan, giám định hàng hóa, dịch vụ thuê chỗ trên tàu... So với các doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam hiện đang nắm giữ nhiều cơ sở hạ tầng, tài sản phục vụ hoạt động logistics (trung tâm logistics, kho bãi, cảng biển, cảng cạn, sân bay, đường sắt, toa xe, xe tải...), đồng thời có lợi thế am hiểu tập quán kinh doanh và khách hàng nội địa, nhưng hoạt động còn đơn lẻ, năng lực tài chính, quản trị còn hạn chế, chỉ phục vụ ở từng phân khúc nhất định, thiếu sự kết nối xuyên suốt để cung cấp dịch vụ logistics tích hợp.
Hơn 80% hội viên VLA là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chỉ một số hội viên như Transimex, Gemadept, Sotrans, Tân Cảng Sài Gòn là những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics lớn, cung cấp dịch vụ 3PL, đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam và có chi nhánh hoặc đại diện ở thị trường ngoài nước.
Bên cạnh sức cạnh tranh còn yếu, những tháng đầu năm cũng cho thấy sự tham gia của doanh nghiệp vào lĩnh vực kho bãi, vận tải bị sụt giảm đáng kể. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong lĩnh vực vận tải, kho bãi, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 6 tháng đầu năm 2023 giảm 7,6%, số vốn đăng ký giảm 63,6% và số lao động giảm 26,4% so với cùng kỳ năm 2022. Đồng thời trong 6 tháng đầu năm, có 349 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 3,95% tổng số doanh nghiệp giải thể của cả nước.
Doanh nghiệp FDI "ồ ạt đổ bộ" vào thị trường logistics Việt Nam
Sức cạnh tranh còn yếu của doanh nghiệp nội cũng thể hiện rõ khi thời gian gần đây, doanh nghiệp FDI đã liên tục thực hiện các dự án logistics tại Việt Nam. Cụ thể mới đây, Tập đoàn FM Logistic (Pháp) vừa khánh thành Trung tâm Phân phối FM Logistic tại Bắc Tân Uyên (Bình Dương). Với tổng vốn đầu tư 25 triệu USD, diện tích hơn 20.000 m2 (có khả năng mở rộng tới 50.000 m2), FM Logistic cung cấp các dịch vụ kho bãi, đóng gói, phân phối và thương mại điện tử.
Trước đó, vào trung tuần tháng 9/2023, SPX - doanh nghiệp logistics có trụ sở tại Singapore - khánh thành Trung tâm Phân loại hàng hóa tự động tại Khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh. Trung tâm này có thể xử lý đến 2,5 triệu bưu kiện/ngày sau giai đoạn I, dự kiến đạt 5 triệu bưu kiện/ngày ở giai đoạn II.
Năm 2022, Best Express Việt Nam đầu tư 20 triệu USD xây dựng trung tâm phân loại hàng hóa ở Bắc Ninh và TP Hồ Chí Minh; SEA Logistic Partners đầu tư dự án SLP Park Xuyên Á tại Long An; Cainiao Network đã đưa vào vận hành Trung tâm Kho vận Cainiao P.A.T (110.000 m2) tại huyện Bến Lức (Long An)…
Doanh nghiệp FDI có nhiều lợi thế trong cuộc cạnh tranh thị phần logistics tại Việt Nam.
Bên cạnh các dự án đã hoàn thành và đi vào hoạt động, nhiều dự án đang được phê duyệt đầu tư với sự đầu tư và rót vốn dồn dập của các tập đoàn lớn khiến thị trường logistics Việt Nam “nóng” lên từng ngày, nhất là tại khu vực phía Nam.
Cụ thể, cuối tháng 8/2023, UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Trung tâm Logistics BW tại huyện Long Thành. Dự án có diện tích 64,4 ha, cách sân bay Long Thành khoảng 10 km. Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án vừa được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt vào cuối tháng 9. Cũng tại Đồng Nai, Dự án Trung tâm Kho vận Cainiao (Trảng Bom) được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt vào quý 1/2023. Dự án do Cainiao Network (thuộc Tập đoàn Alibaba) đầu tư trên diện tích 16,8 ha.
Theo ông Jang Bok Sang, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thương mại và Công nghiệp Hàn Quốc, Đồng Nai đang nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà đầu tư trong lĩnh vực logistics, trong đó có các doanh nghiệp Hàn Quốc. Hiện nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc có dự án đang hoạt động tại Đồng Nai mong muốn đầu tư thêm vào hạ tầng logistics. Nếu Đồng Nai có đủ quỹ đất, đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ thì sẽ đón được dòng vốn lớn từ Hàn Quốc.
Còn tại “thủ phủ” công nghiệp Bình Dương, nhà đầu tư nước ngoài cũng nhắm đến “miếng bánh” logistics. Đầu tháng 8/2023, đại diện Tập đoàn A.P Moller Maersk (Đan Mạch) đã đến Bình Dương và làm việc với UBND tỉnh Bình Dương để trao đổi về kế hoạch đầu tư trung tâm logistics quy mô lớn phục vụ hoạt động kinh doanh lâu dài.
Không chỉ thế, Tập đoàn Warburg Pincus (Mỹ) cũng gặp lãnh đạo tỉnh này để bàn thảo kế hoạch đầu tư Dự án Trung tâm Thương mại điện tử xuyên biên giới. Dự án này được Warburg Pincus và đối tác liên doanh Becamex IDC lên kế hoạch xây dựng với quy mô 75 ha tại thành phố mới Bình Dương.
Doanh nghiệp nội cần khắc phục nhiều yếu điểm
Bộ Công Thương đánh giá, thị trường kém khả quan đã ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ logistics. Tình trạng cạnh tranh để có được đơn hàng trở nên gay gắt hơn. Đây cũng là thời điểm diễn ra sự sàng lọc mạnh giữa các doanh nghiệp có dịch vụ chuyên nghiệp, quy mô vốn và mạng lưới tốt với các doanh nghiệp có nền tảng yếu và không có phân khúc thị trường lợi thế.
Cùng với đó, ngoài sức ép cạnh tranh về dịch vụ, các tiêu chuẩn mới của quốc tế và trong nước về môi trường và an toàn giao thông, an toàn lao động cũng đặt các doanh nghiệp dịch vụ logistics trước yêu cầu đổi mới. Hiện nhiều doanh nghiệp logistics toàn cầu khi thuê ngoài dịch vụ cũng yêu cầu khí thải đối với các doanh nghiệp logistics thứ ba.
Trước bối cảnh đó đòi hỏi doanh nghiệp logistics phải chủ động đầu tư, chuyển đổi mô hình sản xuất, kinh doanh theo hướng “xanh hóa”. Việc thực hiện tốt hoạt động logistics xanh không chỉ là trách nhiệm mà còn giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, đảm bảo sự phát triển bền vững.
Cộng đồng doanh nghiệp logistics Việt Nam nếu không ngồi lại để tìm cách tháo gỡ và tìm hướng phát triển thì “miếng bánh” ngon, rất “hot” này sẽ dành cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Theo Bộ Công Thương, điểm yếu của các doanh nghiệp Việt Nam là chi phí dịch vụ còn cao, chất lượng cung cấp một số dịch vụ chưa cao, trong điều kiện thị trường cung cấp dịch vụ của Việt Nam hiện nay có sự cạnh tranh gay gắt.
Nguyên nhân chính là hạn chế về quy mô doanh nghiệp và vốn, kinh nghiệm và trình độ quản lý, khả năng áp dụng công nghệ thông tin cũng như trình độ nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động quốc tế. Một nguyên nhân quan trọng nữa là hạn chế về kết cấu hạ tầng logistics và chi phí vận tải đường bộ, phụ phí cảng biển do các chủ tàu nước ngoài áp đặt.
Bên cạnh đó mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tại doanh nghiệp logistics còn nhiều hận chế. Hơn nữa, hoạt động triển khai, điều phối các nhiệm vụ phát triển logistics quốc gia còn gặp nhiều khó khăn do đặc thù ngành bao gồm nhiều lĩnh vực thuộc sự quản lý của nhiều bộ, ngành.
Để tạo sức bật cho hoạt động logistics trong thời gian tới, theo Bộ Công Thương, cần kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về dịch vụ logistics ở cả cấp Trung ương và địa phương, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Ủy ban 1899, các bộ, ngành, cùng với cơ chế phân cấp linh hoạt giữa Trung ương và địa phương nhằm nâng cao hơn nữa vai trò chỉ đạo, điều hành hoạt động logistics. Khẩn trương nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045.
Tiếp tục đổi mới trong đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, hạ tầng thương mại, hạ tầng công nghệ tương xứng, phù hợp với thực tiễn. Đặc biệt cần có chính sách thu hút, xây dựng các trung tâm logistics kết nối hiệu quả với các hệ thống cảng biển, đường giao thông trong nước và khu vực tạo thành những tuyến, luồng vận chuyển hàng hóa thuận lợi, hiệu quả cao…
Hồng Quang