11:02 10/10/2024

Doanh nghiệp thép cần làm gì để thích ứng với cơ chế CBAM?

Thép Việt Nam là một trong 6 ngành đầu tiên chịu tác động trực tiếp của cơ chế carbon biên giới EU (CBAM). Để giảm thiểu những tác động tiêu cực, bên cạnh sự vào cuộc của các cơ quan chức năng hỗ trợ kịp thời thì bản thân doanh nghiệp cũng cần phải chủ động chuyển đổi công nghệ, qua đó tận dụng tối đa những lợi ích mà các hiệp định thương mại (FTA) mang lại.

Tác động của CBAM đến ngành thép của Việt Nam

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) được Liên minh châu Âu ban hành với mục tiêu xử lý lượng phát thải khí nhà kính trong một số hàng hóa nhất định nhập khẩu vào EU. Chính thức có hiệu lực từ 01/10/2023, CBAM trước mắt áp dụng đối với 6 nhóm mặt hàng nhập khẩu gồm: xi măng, điện, phân bón, sắt thép, nhôm và hydrogen.

Từ ngày 01/01/2026, CBAM sẽ bước vào giai đoạn chính thức vận hành. Theo đó, sẽ áp thuế carbon đối với các hàng hóa thuộc diện điều chỉnh khi xuất khẩu vào thị trường EU, dựa trên mức độ phát thải khí nhà kính trong quy trình sản xuất.  

Theo đó, thép Việt Nam là một trong 6 ngành đầu tiên chịu tác động trực tiếp của cơ chế carbon biên giới EU (CBAM).

Doanh nghiệp thép cần làm gì để thích ứng với cơ chế CBAM

Hiện nay, Việt Nam cũng đã hình thành cơ chế, chính sách về giảm phát thải carbon. Đơn cử như: Luật bảo vệ môi trường, Nghị định 06/CP và Thông tư của các bộ, ngành, trong đó Bộ Công Thương cũng đã ban hành Thông tư số 385/2023 hướng dẫn về đo đạc, báo cáo thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và kiểm kê khí nhà kính.

Bà Nguyễn Hồng Loan, chuyên gia Dự án Hỗ trợ kỹ thuật về đánh giá tác động của CBAM cho rằng các doanh nghiệp sẽ có thời gian từ nay đến cuối năm 2025 để xây dựng lộ trình giảm phát thải khí nhà kính cho các sản phẩm của mình và tùy thuộc vào hiện trạng công nghệ, đánh giá hiện trạng phát thải mà doanh nghiệp sẽ đưa ra các ưu tiên cho các hành hành động ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

“Về mặt nguyên tắc, có thể ban đầu nói đến CBAM là nói đến việc phải chịu những gánh nặng chi phí. Tuy nhiên, việc áp dụng CBAM sẽ giúp doanh nghiệp thúc đẩy giảm tiêu thụ nguyên nhiên, vật liệu và áp dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng, do đó có thể mang lại nhiều lợi ích và tiết kiệm được nguồn lực,” bà Loan nói. 

Việc sớm triển khai các cơ chế, chính sách và việc chuyển đổi sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thích ứng với CBAM không chỉ giúp doanh nghiệp giữ vững thị phần mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, mở rộng sang các thị trường lớn, trọng điểm.

Để ứng phó với CBAM, Chính phủ đã giao Bộ Công Thương làm đầu mối để tổng hợp tất cả các nguồn lực, thông tin kết nối với đối tác nước ngoài và trực tiếp đàm phán, trao đổi với nước ngoài để từ đó có những hướng dẫn cũng như hỗ trợ doanh nghiệp cụ thể.

Bên cạnh đó, ông Khanh cho rằng, cần có sự tuyên truyền đúng, tuyên truyền chính xác về CBAM, cũng như tập huấn và hướng dẫn cho doanh nghiệp làm thế nào để tuân thủ các quy định về báo cáo, các chuẩn bị cho CBAM.

Doanh nghiệp thép chủ động ứng phó

Xuất khẩu thép sang EU đã bứt tốc mạnh mẽ trong những năm gần đây, song hành với sự đầu tư mở rộng năng lực sản xuất trong nước và cú hích từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Từ năm 2021, EU trở thành thị trường xuất khẩu tỷ USD của ngành thép, với kim ngạch xấp xỉ 2 tỷ USD. 

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 11,1 triệu tấn sắt thép vào năm 2023, tăng 32,6% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu đạt 8,35 tỷ USD, tăng 4,5%. Trong đó, xuất khẩu sang EU chiếm gần 23% tổng lượng thép xuất khẩu của cả nước, đạt gần 2,55 triệu tấn, tăng 86,2% so với năm 2022, kim ngạch đạt hơn 1,89 tỷ USD, tăng 29,0%. Trong EU, xuất khẩu sang các thị trường Ialia, Bỉ và Tây Ban Nha đều tăng mạnh. 

Doanh nghiệp thép cần làm gì để thích ứng với cơ chế CBAM

Ông Đinh Quốc Thái - Tổng Thư ký VSA cho biết, khi bắt đầu manh nha có cơ chế CBAM, các doanh nghiệp ngành thép đã bắt đầu tiến hành tìm hiểu các thông tin liên quan đến cơ chế này với sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững, Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên và Môi trường).

Hiệp hội đã cập nhật thông tin về CBAM từ sớm trong bản tin hàng tháng để các doanh nghiệp xác định rõ mức độ ảnh hưởng của cơ chế này đến sản lượng cũng như doanh thu xuất khẩu thời gian tới.

Bên cạnh đó, Hiệp hội đã phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tư vấn để tổ chức các hội thảo, hội nghị chuyên đề về CBAM, giúp các doanh nghiệp nắm được lộ trình của CBAM. Thông qua những hội thảo, hội nghị chuyên đề cũng như những thông tin trên tạp chí hàng tháng, doanh nghiệp ngành thép đã hiểu sơ bộ tình hình và chủ động trong công tác ứng phó.

Cùng với sự chuẩn bị về nhân lực, các doanh nghiệp ngành thép đã tích cực, chủ động áp dụng công nghệ tiên tiến trong các hoạt động hàng ngày cũng như trong vận hành sản xuất để tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải carbon, tiến tới chuyển đổi xanh và áp dụng các giải pháp sản xuất thép xanh hơn.

“Đến nay, Hiệp hội Thép Việt Nam đã cơ bản hoàn thiện dự thảo lộ trình trung hòa carbon từ nay đến năm 2050 phù hợp với chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu. Trên cơ sở đó làm tài liệu hướng dẫn cho các doanh nghiệp trong ngành có chiến lược cũng như kế hoạch cần thiết để chuyển đổi xanh và ứng phó kịp thời với CBAM”, Tổng Thư ký Hiệp hội Thép Việt Nam nhấn mạnh.

Thép là một ngành công nghiệp then chốt, sử dụng các công nghệ hiện đại, với chi phí đầu tư rất lớn. Vì vậy, ngành thép muốn chuyển đổi để thích ứng với cơ chế như CBAM hay chuyển đổi xanh thì phải có những bước đi phù hợp, với tầm nhìn tương ứng.

Doanh nghiệp thép cần làm gì để thích ứng với cơ chế CBAM

Trong thời gian tới, để thích ứng với CBAM, các doanh nghiệp ngành thép mong muốn sớm được Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển ngành thép Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2050, gắn với chiến lược tăng trưởng xanh và bền vững, đồng thời, có những cơ chế đặc thù cho ngành thép Việt Nam để chuyển đổi xanh cũng như sản xuất bền vững.

Hiệp hội VSA đề nghị các doanh nghiệp trong ngành xây dựng chiến lược chuyển đổi xanh đến năm 2050, phù hợp với cam kết của Chính phủ Việt Nam tại COP26.

Bên cạnh đó, Hiệp hội VSA gợi mở một số giải pháp cho các doanh nghiệp trong ngành. Thứ nhất, tiếp tục chuyển đổi số để áp dụng các công nghệ số vào quá trình sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả, tối ưu hóa các cơ sở thiết bị hiện tại để tiết kiệm năng lượng cũng như kiểm soát được quá trình phát thải. Thứ hai, trong chiến lược phát triển của từng doanh nghiệp, bố trí đầu tư, nghiên cứu các dự án để chuyển đổi nhanh nhất sang quá trình sản xuất thép xanh, phù hợp với chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu.

Thứ ba, phối hợp với các cơ quan, doanh nghiệp có liên quan trong chuỗi cung ứng của ngành, từ việc mua nguyên liệu đến các sản phẩm phụ, năng lượng và vận tải… để xây dựng chuỗi cung ứng xanh.

Cuối cùng, tiếp tục phát triển các sản phẩm mới; đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực để thích ứng với quá trình sản xuất xanh, cung ứng sản phẩm thép xanh.

Tổng thư ký VSA hi vọng, Bộ Công Thương với tư cách là cơ quan đầu mối sẽ hướng dẫn và có những giải pháp cụ thể, giúp các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thép nói riêng thích ứng với cơ chế CBAM, từ đó, giúp doanh nghiệp thép chuyển đổi thành công và có những sản phẩm thép xanh cung ứng ra thị trường, đáp ứng tiêu chuẩn để tiếp tục chinh phục thị trường EU.

Trung Anh