12:39 24/10/2026

Đồng Tháp tìm dư địa tăng giá trị cho hàng triệu tấn nông sản

Sở hữu nguồn cung hàng triệu tấn lúa gạo, trái cây, rau màu và thủy sản mỗi năm, nhưng Đồng Tháp xác định sản lượng lớn chưa đủ tạo lợi thế trên thị trường. Địa phương đang hướng tới phát triển chế biến sâu, hoàn thiện hạ tầng sau thu hoạch, logistics, truy xuất nguồn gốc và tổ chức lại chuỗi liên kết để nâng giá trị nông sản, giảm áp lực tiêu thụ nguyên liệu thô.

Mới đây, tại Hội nghị kết nối sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông sản, thực phẩm chế biến với các doanh nghiệp xuất khẩu và hệ thống bán lẻ hiện đại, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp đã thông tin về tình hình sản xuất, tiềm năng, lợi thế cũng như định hướng phát triển các sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh.

Giảm áp lực bán nguyên liệu thô

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, Đồng Tháp đang bước vào giai đoạn phát triển mới với không gian sản xuất nông nghiệp rộng và đa dạng hơn, kết nối vùng sản xuất lúa gạo, cây ăn trái, thủy sản nước ngọt với khu vực ven biển và các hành lang giao thông đường bộ, đường thủy.

Không gian mới tạo điều kiện để tỉnh không chỉ phát triển sản xuất về quy mô mà còn tổ chức lại chuỗi cung ứng, mở rộng chế biến, logistics và thị trường tiêu thụ.

Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng lớn, sản xuất nhiều chưa đồng nghĩa với tiêu thụ tốt. Sản phẩm có chất lượng cũng chưa chắc vào được hệ thống phân phối hiện đại, trong khi vùng nguyên liệu lớn chưa tự động tạo ra những đơn hàng ổn định.

Năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm khoảng 34,6% cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn. Trong 9 tháng đầu năm 2026, giá trị tăng thêm của lĩnh vực nông nghiệp và môi trường ước đạt 62.859 tỷ đồng, tăng 4,6% so với cùng kỳ. Riêng lúa gạo, 9 tháng đầu năm, Đồng Tháp xuống giống hơn 579 nghìn ha, thu hoạch gần 489 nghìn ha, sản lượng trên 3,32 triệu tấn.

Đồng Tháp tìm dư địa tăng giá trị cho hàng triệu tấn nông sản
Ông Nguyễn Minh Hiếu – Chi cục trưởng CC Chất lượng Chế biến và Phát triển Nông thôn thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp lên trình bày Báo cáo tham luận với chủ đề: "Tình hình sản xuất, tiềm năng, lợi thế và định hướng phát triển các sản phẩm nông sản chủ lực tỉnh Đồng Tháp" tại hội nghị.

Diện tích cây ăn trái của tỉnh hiện trên 135 nghìn ha, sản lượng thu hoạch 9 tháng đạt gần 1,88 triệu tấn, tăng khoảng 5% so với cùng kỳ. Nhiều loại trái cây như sầu riêng, xoài, mít, khóm, thanh long, cây có múi, nhãn, dừa... được đánh giá có khả năng tham gia sâu hơn vào thị trường trong nước và xuất khẩu. Sản lượng rau, đậu các loại cũng đã vượt 1 triệu tấn. Đây là nhóm hàng có tiềm năng cung ứng cho hệ thống bán lẻ, bếp ăn, chế biến thực phẩm và các thị trường đô thị.

Trong khi đó, sản lượng thủy sản nuôi và khai thác trong 9 tháng đạt trên 815 nghìn tấn, tăng 9,21% so với cùng kỳ. Cá tra tiếp tục giữ vai trò ngành hàng chủ lực và còn dư địa lớn trong phát triển sản phẩm chế biến sâu cũng như tận dụng phụ phẩm.

Đồng Tháp hiện có 417 hợp tác xã nông nghiệp, 1.040 tổ hợp tác, 155 Hội quán và 889 sản phẩm OCOP. Đây được xem là mạng lưới quan trọng để doanh nghiệp tiếp cận vùng nguyên liệu, tổ chức hợp đồng, chuẩn hóa quy trình và xây dựng chuỗi cung ứng.

Với nguồn nguyên liệu lớn, một trong những vấn đề được Đồng Tháp đặt ra là làm thế nào tăng tỷ trọng sản phẩm qua bảo quản, sơ chế và chế biến thay vì phụ thuộc vào tiêu thụ nguyên liệu thô hoặc thị trường hàng tươi trong thời gian ngắn.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, nếu phần lớn sản phẩm tiếp tục tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu, áp lực mùa vụ, biến động giá và rủi ro thị trường sẽ còn lớn. Do đó, bảo quản, chế biến và đa dạng hóa sản phẩm được xác định là một trong những hướng phát triển quan trọng.

Với trái cây, thị trường không chỉ dừng ở sản phẩm tươi. Đồng Tháp còn dư địa phát triển các dòng trái cây cấp đông, IQF, múi hoặc cơm trái cây, puree, nước ép, sản phẩm cô đặc, sấy và nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm - đồ uống.

Sầu riêng là một ví dụ. Bên cạnh xuất khẩu trái tươi, địa phương định hướng mở rộng khả năng chế biến múi sầu riêng đông lạnh, sản phẩm từ cơm sầu riêng và những dạng nguyên liệu phục vụ chế biến thực phẩm.

Tương tự, xoài, mít, khóm và các loại trái cây khác có thể tăng tỷ lệ sơ chế, cấp đông, sấy, puree và chế biến sâu nhằm kéo dài thời gian tiêu thụ, giảm sức ép khi bước vào thời điểm thu hoạch tập trung.

Đồng Tháp tìm dư địa tăng giá trị cho hàng triệu tấn nông sản
Đồng Tháp hiện có 417 hợp tác xã nông nghiệp, 1.040 tổ hợp tác, 155 Hội quán và 889 sản phẩm OCOP.

Tuy nhiên, ngành nông nghiệp tỉnh cũng lưu ý chế biến chỉ có thể phát triển bền vững khi gắn với vùng nguyên liệu. Một nhà máy khó hoạt động hiệu quả nếu nguồn nguyên liệu không ổn định về giống, độ chín, chất lượng và thời điểm thu hoạch. Vì vậy, đầu tư chế biến phải đi cùng hợp đồng vùng nguyên liệu và kế hoạch cung ứng theo mùa vụ. Đối với lúa gạo, dư địa gia tăng giá trị cũng không chỉ nằm ở xuất khẩu gạo thành phẩm.

Đồng Tháp hiện có trên 200 cơ sở chế biến lúa gạo, tổng công suất ước khoảng 4,5-5 triệu tấn/năm. Trên nền tảng này, tỉnh định hướng phát triển mạnh hơn các phân khúc gạo thơm, gạo chất lượng cao, gạo phát thải thấp, gạo đóng gói theo nhãn riêng; đồng thời mở rộng các sản phẩm từ gạo, dầu cám, protein, bún, bánh và phụ phẩm.

Với thủy sản, toàn tỉnh có 48 cơ sở chế biến với công suất trên 640 nghìn tấn/năm. Ngoài sản phẩm phi lê truyền thống, định hướng được đặt ra là phát triển sản phẩm chia khẩu phần, hàng lẩu, thực phẩm chế biến sẵn và các sản phẩm tiện dụng phù hợp với hệ thống bán lẻ hiện đại.

Phụ phẩm thủy sản cũng được định hướng trở thành nguồn nguyên liệu cho collagen, gelatin, dầu cá, bột cá và những sản phẩm có giá trị cao hơn. Ngay cả với 889 sản phẩm OCOP và thực phẩm chế biến, Đồng Tháp cũng không đặt mục tiêu đưa tất cả sản phẩm vào một kênh bán hàng.

Thay vào đó, từng nhóm cần được xác định rõ phân khúc: sản phẩm phù hợp siêu thị, sản phẩm phục vụ thị trường quà tặng, sản phẩm có khả năng phát triển qua thương mại điện tử hay sản phẩm đủ quy mô để xây dựng nhãn riêng.

Theo ngành nông nghiệp tỉnh, giá trị gia tăng của nông nghiệp Đồng Tháp trong thời gian tới sẽ phụ thuộc rất lớn vào khả năng giải quyết ba khâu gồm bảo quản sau thu hoạch, chế biến và logistics.

Khi ba khâu này được tổ chức tốt, nông sản không chỉ giảm tổn thất mà người sản xuất còn có thể chủ động hơn về thời điểm bán hàng, mở rộng thị trường và cải thiện khả năng đàm phán.

Từ giới thiệu sản phẩm đến những đơn hàng thực tế

Cùng với chế biến, một vấn đề khác được đặt ra là hiệu quả của các chương trình kết nối thị trường. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp, tại một số hoạt động xúc tiến thương mại, số lượng sản phẩm được giới thiệu và các cuộc gặp gỡ khá nhiều nhưng số hợp đồng thực tế sau hội nghị lại chưa tương xứng.

Nguyên nhân một phần xuất phát từ cách kết nối còn thiên về giới thiệu “mình đang có gì”, trong khi doanh nghiệp thu mua cần những thông tin cụ thể hơn. Doanh nghiệp xuất khẩu cần biết sản lượng từng tháng, vùng nguyên liệu, quy cách sản phẩm, dư lượng, chứng nhận, khả năng kiểm nghiệm và lịch giao hàng.

Hệ thống bán lẻ lại quan tâm tới tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, bao bì, nhãn hàng hóa, hạn sử dụng, mã truy xuất, năng lực giao hàng định kỳ và khả năng tham gia các chương trình khuyến mại.

Đồng Tháp tìm dư địa tăng giá trị cho hàng triệu tấn nông sản
Từ giới thiệu sản phẩm đến những đơn hàng thực tế tại tại Hội nghị kết nối sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông sản, thực phẩm chế biến với các doanh nghiệp xuất khẩu và hệ thống bán lẻ hiện đại.

Trong khi đó, doanh nghiệp logistics cần nắm được nơi xuất phát của hàng hóa, sản lượng, yêu cầu tiền lạnh hay cấp đông, nhiệt độ bảo quản, thời gian vận chuyển và tuyến giao hàng. Vì vậy, thay vì chỉ kết nối doanh nghiệp theo tên sản phẩm, ngành nông nghiệp Đồng Tháp cho rằng cần tiến tới ghép các bên theo nhu cầu và nút thắt của từng chuỗi giá trị.

Một doanh nghiệp trái cây không chỉ cần gặp hợp tác xã có vùng nguyên liệu mà có thể phải kết nối đồng thời với đơn vị kiểm nghiệm, kho lạnh, cơ sở đóng gói, nhà cung cấp bao bì và cơ quan quản lý mã số vùng trồng.

Khi những mắt xích này cùng tham gia, khả năng hình thành đơn hàng sẽ cao hơn so với cuộc gặp đơn thuần giữa người sản xuất và người mua. Mục tiêu của ngành nông nghiệp tỉnh vì vậy không phải có thật nhiều biên bản ký kết mang tính hình thức. Điều được kỳ vọng sau những chương trình kết nối là có thêm hoạt động chào mẫu, khảo sát vùng nguyên liệu, đơn hàng thử nghiệm và sau cùng là những hợp đồng có khả năng thực hiện lâu dài.

Để mở rộng không gian tiêu thụ, Đồng Tháp đang tiếp tục thúc đẩy các chương trình phối hợp với Hà Nội, Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Gia Lai và các địa phương khác. Trọng tâm là kết nối vùng nguyên liệu, doanh nghiệp và hợp tác xã của Đồng Tháp với các đầu mối thu mua, chế biến, xuất khẩu, hệ thống phân phối, từng bước hình thành chuỗi tiêu thụ ổn định.

Hiện tỉnh có 20 dự án và 37 kế hoạch liên kết sản xuất - tiêu thụ được phê duyệt, song nhu cầu phát triển các chuỗi liên kết vẫn còn lớn. Theo định hướng của ngành nông nghiệp, doanh nghiệp cần tham gia sớm hơn vào chuỗi, đưa yêu cầu của thị trường vào ngay từ đầu vụ thay vì chờ đến khi nông sản đã thu hoạch mới tổ chức thu mua.

Hạ tầng sau thu hoạch và logistics cũng là lĩnh vực Đồng Tháp muốn tiếp tục thu hút doanh nghiệp đầu tư, đặc biệt đối với tiền lạnh, kho lạnh, cấp đông, sơ chế và bao bì cho trái cây, rau màu.

Song song đó là hoàn thiện mạng lưới kiểm nghiệm, dịch vụ chứng nhận, dữ liệu truy xuất nguồn gốc và nâng năng lực thương mại cho hợp tác xã, cơ sở sản xuất. Nhiều đơn vị hiện có sản phẩm tốt nhưng vẫn thiếu hồ sơ chào hàng chuyên nghiệp, chưa xác định rõ giá bán, năng lực giao hàng, tiêu chuẩn áp dụng hay quy cách đóng gói.

Từ thực tế trên, ngành nông nghiệp Đồng Tháp xác định lợi thế của địa phương không chỉ được đo bằng quy mô vùng nguyên liệu hay số lượng nông sản tạo ra. Mục tiêu xa hơn là hình thành nguồn cung đủ lớn, đủ chuẩn, có khả năng truy xuất, có năng lực chế biến - logistics và giao hàng ổn định.

Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp cho biết, sẵn sàng phối hợp với doanh nghiệp, nhà đầu tư và hệ thống phân phối trong cung cấp thông tin vùng nguyên liệu, kết nối với hợp tác xã, cơ sở sản xuất; hỗ trợ các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc.

Theo đó, hiệu quả của các chương trình kết nối sẽ không chỉ nằm ở việc có bao nhiêu sản phẩm được giới thiệu, mà quan trọng hơn là từ những cuộc gặp đó có hình thành được khảo sát vùng nguyên liệu, mẫu hàng được đánh giá, đơn hàng thử nghiệm, dự án đầu tư và những hợp đồng hợp tác dài hạn hay không.

Thiên An