14:13 07/10/2026

Dư địa tín dụng cuối năm: Lợi thế thuộc về ngân hàng nào

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% sau 9 tháng, đạt 20,75 triệu tỷ đồng, trong khi mục tiêu năm khoảng 15%. Quý IV còn dư địa đáng kể, nhưng áp lực huy động, NIM và chất lượng tài sản sẽ quyết định ngân hàng nào thực sự tận dụng được phần dư địa này.

Dư địa còn lớn cho những tháng cuối năm

Ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, nhưng cho phép điều chỉnh tăng hoặc giảm tùy diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và an toàn hệ thống. Cơ chế phân bổ chỉ tiêu năm nay cũng tiếp tục dựa trên kết quả xếp hạng các tổ chức tín dụng, thay vì áp dụng một mức room đồng đều.

Nếu lấy mốc cuối năm 2025 khoảng gần 19 triệu tỷ đồng và mục tiêu 2026 là tăng trưởng 15%, quy mô dư nợ cuối năm tương ứng khoảng hơn 21 triệu tỷ đồng. Theo đó, với mức 20,75 triệu tỷ đồng cuối tháng 9, thì hệ thống còn khoảng 630.000 tỷ đồng dư nợ để tiến tới ngưỡng 15% - ngưỡng mục tiêu đề ra và là khoảng dư địa không nhỏ trong ba tháng cuối năm.

Đáng chú ý, bên cạnh việc điều chỉnh room, Ngân hàng Nhà nước đang tạo thêm dư địa để tín dụng chảy vào những khu vực được xác định là động lực tăng trưởng. Theo Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các tổ chức tín dụng chủ động cấp vốn cho nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất, nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, nghỉ dưỡng; dư nợ phát sinh trong một số lĩnh vực này không tính vào phần dư nợ tín dụng cần kiểm soát theo cách thông thường. Với các dự án lớn, trọng điểm, có tính lan tỏa và liên kết vùng, Ngân hàng Nhà nước cũng có hướng dẫn tương tự nhằm tạo điều kiện triển khai.

Dư địa tín dụng cuối năm Lợi thế thuộc về ngân hàng nào
Dư địa tín dụng cuối năm (ảnh: minh họa)

Đây là điểm rất quan trọng đối với triển vọng tín dụng quý IV. Bởi thay vì mở rộng tín dụng theo chiều rộng, chính sách đang hướng tới mở rộng dư địa cho những khoản vay có khả năng tạo ra năng lực sản xuất mới. Chương trình tín dụng dành cho các động lực tăng trưởng và doanh nghiệp nhỏ và vừa là một ví dụ. Từ 4 ngân hàng thương mại nhà nước ban đầu, đến nay đã có 19 ngân hàng đăng ký tham gia với quy mô khoảng 409.000 tỷ đồng.

Nói cách khác, quý IV có thể có thêm room nhưng để biến room thành dư nợ thực tế vẫn cần dự án đủ điều kiện, dòng tiền đủ khỏe và tài sản bảo đảm hoặc phương án tín dụng đủ thuyết phục.

Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất của bức tranh tín dụng cuối năm là áp lực huy động vốn. Tín dụng đang tăng nhanh hơn huy động, trong khi mặt bằng lãi suất tiền gửi đã phân hóa khá rõ. Đến cuối tháng 9, nhóm Big4 gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank niêm yết lãi suất tiền gửi 12 tháng quanh 6,8%/năm, trong khi ACB lên tới 7,8%, Sacombank 7,5% và VPBank 7,1% ở cùng kỳ hạn.

Áp lực này lý giải vì sao lợi thế trong quý IV nhiều khả năng thuộc về những ngân hàng có CASA tốt, nguồn tiền gửi ổn định, khả năng phát hành giấy tờ có giá và bộ đệm vốn mạnh.

MBS Research trong báo cáo cập nhật ngày 25/9 dự báo tín dụng của nhóm ngân hàng niêm yết mà tổ chức này theo dõi trong quý III tăng khoảng 12% so với đầu năm, đồng thời cho rằng chất lượng tài sản nhìn chung chưa suy giảm thêm so với quý trước. MBS cũng dự báo lợi nhuận sau thuế nhóm ngân hàng theo dõi tăng 19,1% trong quý III.

Tuy nhiên, MBS vẫn dự báo tăng trưởng tín dụng toàn ngành cả năm quanh 15%, trong khi NIM tiếp tục chịu sức ép do lãi suất huy động cao và yêu cầu duy trì mặt bằng lãi suất cho vay hỗ trợ nền kinh tế.

Nếu phải trả giá quá cao để huy động vốn nhưng vẫn phải giữ lãi suất cho vay cạnh tranh, ngân hàng có thể tăng dư nợ nhưng NIM lại bị thu hẹp. Khi đó, chất lượng tăng trưởng tín dụng quan trọng hơn tốc độ tăng trưởng tuyệt đối.

SSI Research cũng từng cảnh báo trong nửa cuối năm rằng áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản sẽ là những biến số quyết định sự phân hóa giữa các ngân hàng. Quan điểm này nhấn mạnh lợi thế của các nhà băng có nền huy động vững, kỷ luật chi phí và bộ đệm vốn tốt, thay vì chạy theo tăng trưởng tín dụng bằng mọi giá.

Đáng chú ý, Thông tư 50/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ 1/12/2026, thay thế Thông tư 22/2019 quy định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) tối đa được nâng lên 95%, thay vì mức 85% hiện hành, đồng thời bổ sung lộ trình áp dụng các chuẩn thanh khoản LCR và NSFR. Động thái này không tạo thêm “room tín dụng” trực tiếp, nhưng có thể mở rộng khả năng cân đối nguồn vốn cho vay của một số ngân hàng từ tháng 12.

Không phải ngân hàng nào cũng tăng tốc, chất lượng mới là thước đo

Sự phân hóa giữa các ngân hàng đang trở nên rõ hơn. Khi một số ngân hàng có chiến lược tăng trưởng tín dụng mạnh và được hỗ trợ bởi năng lực vốn, mạng lưới khách hàng hoặc vị thế trong các chương trình ưu tiên có thể tiếp tục tăng tốc trong quý IV.

Ngược lại, những ngân hàng chịu áp lực huy động cao, CASA thấp hoặc chất lượng tài sản chưa thực sự ổn định có thể phải thận trọng hơn. Dự báo của SSI về kết quả kinh doanh quý III cũng cho thấy bức tranh này: VietinBank, Vietcombank, MB và VPBank được kỳ vọng nằm trong nhóm có lợi nhuận trước thuế trên 10.000 tỷ đồng trong quý, nhưng các chuyên gia đồng thời lưu ý chi phí vốn, nợ xấu và dự phòng đang tạo ra sự phân hóa ngày càng lớn.

Ở góc độ thị trường, MBS cũng cho rằng chất lượng tài sản cuối năm có khả năng ổn định hơn nhờ nhiều ngân hàng đã tăng trích lập trong nửa đầu năm. Điều này phần nào giải thích vì sao dư địa tín dụng cuối năm có thể được khai thác nhưng theo hướng chọn lọc hơn: sản xuất kinh doanh, hạ tầng, công nghiệp, xuất khẩu, SME, nhà ở xã hội và các dự án có khả năng tạo dòng tiền sẽ có nhiều cơ hội hơn những lĩnh vực mang tính đầu cơ.

Thậm chí với bất động sản, việc Ngân hàng Nhà nước tạo điều kiện cho một số nhóm như khu công nghiệp, nhà ở xã hội hay dự án trọng điểm cũng cho thấy cách tiếp cận đang thay đổi: không siết bất động sản theo nghĩa cơ học, mà phân biệt giữa tín dụng tạo giá trị kinh tế và tín dụng tiềm ẩn rủi ro.

Nếu nhìn từ phía nền kinh tế, dư địa hấp thụ vốn hiện nay cũng tích cực hơn. GDP 9 tháng tăng 9,01%, riêng quý III tăng 9,95%, tạo nền tảng cho nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, đầu tư và thương mại trong quý IV. Nhưng chính tốc độ tăng trưởng cao cũng đặt ra yêu cầu không để tín dụng chạy trước quá xa so với năng lực hấp thụ thực của nền kinh tế.

Từ nay đến cuối năm, nếu tín dụng tăng thêm khoảng 3-4 điểm phần trăm, mục tiêu quanh 15% là hoàn toàn có cơ sở. Thậm chí, trong trường hợp cầu vốn tăng mạnh và các điều kiện vĩ mô thuận lợi, Ngân hàng Nhà nước vẫn có khả năng điều chỉnh định hướng phù hợp với diễn biến thực tế.

Tuy nhiên, nếu dòng vốn chủ yếu phục vụ vốn lưu động, mở rộng nhà máy, hạ tầng, công nghiệp hỗ trợ, xuất khẩu, SME và những dự án tạo ra dòng tiền mới, tín dụng sẽ tiếp tục đóng vai trò động lực tăng trưởng. Ngược lại, nếu tăng trưởng tín dụng bị kéo bởi những nhu cầu có tính đầu cơ hoặc tài sản bảo đảm tăng giá nhanh hơn dòng tiền, áp lực nợ xấu có thể xuất hiện với độ trễ.

Vì vậy, quý IV/2026 có thể là thời điểm hệ thống ngân hàng tiếp tục “bơm vốn” mạnh hơn, nhưng cuộc chơi sẽ không còn đơn giản là ngân hàng nào có room lớn nhất. Lợi thế sẽ thuộc về những nhà băng có thể đồng thời giải quyết ba bài toán: nguồn vốn đủ rẻ, khách hàng đủ tốt và khả năng kiểm soát rủi ro đủ chặt.

Phượng Hòa