14:57 10/06/2024

Gập ghềnh con đường phục hồi, nhóm cổ phiếu ngân hàng có còn cơ hội 'lên tàu'?

Tăng trưởng tín dụng đình trệ, các chỉ số chất lượng tài sản nhìn chung ghi nhận giảm và quá trình xử lý nợ xấu nhiều khả năng kéo dài hơn dự kiến. Mặc dù triển vọng ngành ngân hàng vẫn còn nhiều ẩn số, Mirae Asset Việt Nam cho rằng vẫn có cơ hội đầu tư đối với nhóm ngành này.

Tăng trưởng tín dụng đình trệ

Theo báo cáo ngành mới đây của Công ty Chứng khoán Mirae Asset Việt Nam (MASVN), tăng trưởng tín dụng trong quý 1/2024 phản ánh xu hướng kinh tế chưa hoàn toàn hồi phục, khi ghi nhận mức tăng trưởng thấp nhất trong gần một thập kỷ, với mức tăng chỉ đạt 1.34%. Con số này chỉ cao hơn mức tăng 0.5% trong quý 1/2014 và tương đương mức tăng trưởng tín dụng năm khởi phát dịch COVID. Tuy nhiên, kết quả này không hoàn toàn bất ngờ khi triển vọng kinh tế vĩ mô thận trọng, mặc dù có một số dấu hiệu phục hồi. Ngoài ra, tín dụng tăng mạnh trong những tháng cuối năm 2023 đã đáp ứng phần lớn nhu cầu tín dụng trong những tháng đầu 2024.

Lãi suất cho vay đang tiệm cận mức ổn định như giai đoạn trước đại dịch, mặc dù vậy, lãi suất cho vay có thể tăng trở lại trong ngắn hạn. Nhờ những điều chỉnh trong chính sách tiền tệ của NHNN sang hướng nới lỏng trong năm 2023, lãi suất cho vay tiếp tục điều chỉnh giảm trong Q1/2024. Tuy nhiên, dưới nhiều áp lực thì khả năng lãi suất tăng trở lại ngày càng cao.

Mặc dù mặt bằng lãi suất thấp được duy trì, tăng trưởng tín dụng vẫn khá ảm đạm trong Q1/2024. Điều này cho thấy lãi suất không phải là nhân tố duy nhất quyết định đối với nhu cầu tín dụng; triển vọng kinh tế (khả năng hoàn thành nghĩa vụ nợ) và triển vọng đầu tư cũng đóng vai trò quan trọng. Với kỳ vọng phục hồi kinh tế tích cực hơn trong các quý tới, cùng với khả năng các thông tư mới hướng dẫn áp dụng Luật Đất Đai mới được kỳ vọng ban hành vào cuối quý 2/2024, những yếu tố này sẽ là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trong thời gian tới.

Ngành ngân hàng Gập ghềnh con đường hồi phục

Tăng trưởng kinh tế có nhiều dấu hiệu cho thấy sự phục hồi, nhưng lượng giao dịch bất động sản tại TP.HCM vẫn giảm đáng kể với khoảng 74% sv. Q4/2023, theo báo cáo của CBRE. Bên cạnh đó, khối lượng giao dịch tại Hà Nội cũng duy trì ở mức thấp, tương đương so với cùng kỳ. Sự ảm đạm của thị trường BĐS một phần do nguồn cung hạn chế tại TP.HCM (ngoài phân khúc cao cấp với lượng cung vẫn dồi dào). Vì vậy, mảng cho vay KHCN vẫn tương đối chậm, trong khi phân khúc ngân hàng doanh nghiệp tiếp tục được khai thác tối đa. Mặc dù vậy, dựa trên mức tăng trưởng ổn định của giá căn hộ và tỷ lệ đặt chỗ tăng cao tại các dự án sắp mở bán, khả năng phục hồi đối với mảng cho vay mua nhà sẽ tích cực hơn trong nửa sau năm 2024.

Mặc dù tình hình kinh tế đã lạc quan hơn so với năm 2023, nhưng nhu cầu vốn vay, đặc biệt là vay thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp của các nhóm ngành lớn như ngân hàng và BĐS vẫn tương đối kém. Các nguyên do chính dẫn đến tình trạng này bao gồm động thái tạm hoãn huy động thêm vốn vay để triển khai các dự án, chờ đợi luật và thông tư mới từ phía nhóm phát triển BĐS, trong khi tín dụng tăng trưởng không nhiều cũng dẫn đến nhóm ngân hàng không có nhu cầu huy động vốn trung và dài hạn. Ngoài ra, nhóm nhà đầu tư cá nhân cũng cần thêm thời gian để phục hồi lại niềm tin vào thị trường trái phiếu sau các sự kiện bất thường năm 2022-2023. Về lãi suất phát hành tiếp tục ghi nhận xu hướng giảm khoảng 10-30bps từ đầu năm đến nay đối với trái phiếu của các nhóm tổ chức tín dụng, trong khi lãi suất trái phiếu của nhóm BĐS hầu như không thay đổi trong 4 tháng đầu năm 2024 và tương đương với mức trước COVID.

Sự lên ngôi của các kênh trú ẩn

Trong quý 1, tiền gửi cũng ghi nhận tăng trưởng thấp với khoảng 0.7% so với năm 2023. Tuy nhiên, tiền gửi tăng trưởng thấp cũng không quá đáng ngại trong bối cảnh lãi suất thấp (tương đương với mức lãi suất huy động trong giai đoạn nới lỏng tiền tệ 2020-2021). Thêm vào đó, đồng nội tệ trượt giá và mức lợi nhuận hấp dẫn từ các kênh đầu tư truyền thống nhưng có tính thanh khoản cao như vàng, các yếu tố này cộng hưởng đã chuyển dịch đáng kể dòng vốn hướng về các kênh này trong khoảng thời gian gần đây.

Mặc dù tăng trưởng tiền gửi thấp trong quý 1 năm 2024, MASVN vẫn kỳ vọng tình hình sẽ chuyển biến tích cực hơn trong các quý tới: Lợi nhuận mang lại từ các kênh đầu tư truyền thống hiện đang cao theo thống kê tới cuối tháng 4, trong đó, đồng đô ghi nhận mức tăng 4.6% trong khi vàng đã tăng trên 20%, cao hơn nhiều so với lợi suất từ kênh tiền gửi. Mức tăng đột biến này sẽ thúc đẩy các cơ quan chức năng sớm can thiệp, nhằm hạn chế tình trạng tích trữ đầu cơ tại nhóm tài sản này và ổn định đồng nội tệ. Với kỳ vọng lãi suất tăng trở lại và giá của các tài sản kia đã tăng cao, dòng tiền đầu tư có khả năng chuyển hướng trở lại kênh tiền gửi. Mặc dù NHNN chưa điều chỉnh tăng lãi suất điều hành, các lãi suất tham chiếu khác như lãi suất liên ngân hàng và lợi suất TPCP cũng dần ghi nhận xu hướng tăng trở lại.

Ngành ngân hàng Gập ghềnh con đường hồi phục
Tiền gửi và tăng trưởng tín dụng tương đối cân bằng

Tỷ giá hối đoái không còn là quan ngại duy nhất đối với nền kinh tế VN. Với việc lạm phát của Mỹ vẫn đang neo ở mức cao, khả năng cũng như kỳ vọng số lần giảm lãi suất của Fed cho năm 2024 cũng đang giảm dần. Do đó, đồng đô la Mỹ tiếp tục mạnh lên so với các đồng tiền khác. Xét theo các nền kinh tế lớn ở Đông Nam Á, VNĐ cũng ghi nhận mức suy giảm đáng kể, khoảng 4.4% YTD, chỉ ít hơn đồng Baht của Thái Lan giảm 8.5%. Mặc dù duy trì mức chênh lệch lãi suất như hiện tại đặt ra nguy cơ VND tiếp tục giảm giá, NHNN vẫn chưa chính thức đảo chiều chính sách tiền tệ nhằm duy trì mặt bằng lãi suất thấp hỗ trợ kinh tế phục hồi cũng như gián tiếp hỗ trợ chất lượng tài sản của các NHTM.

Bên cạnh vấn đề về tỷ giá, áp lực mới từ lạm phát gia tăng cũng sẽ ảnh hưởng đến quyết định về chính sách quản lý từ phía NHNN. Cụ thể, CPI 4 tháng đầu năm đã tiệm cận ngưỡng trần đặt ra cho năm 2024 là 4.5% trong khi lạm phát trong giai đoạn giữa năm 2023 là tương đối thấp. Nhìn chung, nhiều khả năng lãi suất sẽ có đợt tăng trở lại trong thời gian tới.

Thanh khoản không quá đáng ngại

Đến hết quý 1/2024, LDR của các NHNY tăng lên mức 84.7%, gần đạt ngưỡng quy định 85%. Sự gia tăng trở lại của LDR một phần do tăng trưởng tiền gửi chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng. Thêm vào đó, mảng ngân hàng đầu tư vẫn tương đối ảm đạm do các ngân hàng vẫn tương đối thận trọng đối với rủi ro tập trung cũng như nguồn cung TPDN cũng rất hạn chế. Tuy nhiên, với dự kiến các cơ quan quản lý sẽ sớm can thiệp sự gia tăng đột biến của các kênh đầu tư ngoại tệ hay vàng, từ đó chuyển hướng tiền trở lại tiền gửi, sẽ kiềm hãm đà tăng của tỷ lệ LDR. Hơn nữa, nhu cầu tín dụng yếu trong quý 1 năm 2024 cũng như 2 tháng đầu quý 2 cũng sẽ giảm bớt áp lực đối với vấn đề tỷ lệ LDR cao.

Nhiều ngân hàng vẫn gặp khó khăn trong việc đáp ứng giới hạn mới về tỷ lệ huy động ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn (SFMLL). Theo dữ liệu từ NHNN, tính đến cuối tháng 2 năm 2024, tỷ lệ trung bình của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân (PJCBs) tăng nhẹ, từ 39.87% cuối năm 2023 lên mức 40.14%. Tuy nhiên, với giới hạn mới được đặt ở mức 30% đã đi vào hiệu lực từ tháng 10/2023 thì vẫn còn một số ngân hàng cần tăng cường huy động kỳ hạn dài hơn 1 năm để đưa tỷ lệ này về đúng quy định. Qua đó gia tăng áp lực lên biên lãi thuần (NIM) của nhiều ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng vừa và nhỏ, trong khi các ngân hàng lớn không gặp quá nhiều trở ngại đối với việc hoàn thành các chuẩn mới. Các ngân hàng thương mại quốc doanh (SOCBs) vẫn đang duy trì tỷ lệ SFMLL tương đối thấp khoảng 23.61% vào cuối tháng 2, giảm 4.1%p từ đầu năm.

Ngành ngân hàng Gập ghềnh con đường hồi phục
Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) tăng tương đối trong trong kỳ

Diễn biến tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng có thống kê theo quý khá phân hóa: Đối với các ngân hàng ghi nhận CAR tăng có một vài đặc tính chung như tăng trưởng tín dụng vừa phải, lợi nhuận cao hay tăng cường vốn cấp 2 thông qua việc phát hành công cụ nợ trung vài dài hạn. Ngược lại, các ngân hàng có CAR giảm ghi nhận mức tăng trưởng dư nợ tương đối cao trong quý 1. Mức sàn CAR với 8% đã được áp dụng khá lâu nên không phải là thách thức lớn đối với hầu hết các ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng lớn. Vì vậy, mặc dù CAR có thể ghi nhận giảm nhẹ trong các quý tới do ảnh hưởng của việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt, điều này lại cho thấy các ngân hàng này vẫn tự tin vào khả năng thanh khoản cũng như đáp ứng yêu cầu về vốn cho tăng trưởng tín dụng.

Chất lượng tài sản vẫn còn nhiều biến động

Mặc dù có một vài ngân hàng cho thấy chất lượng tài sản tiếp tục cải thiện trong kỳ, tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu trung bình của các NHNY tăng đáng kể lên mức 2.2%, tăng 0.3% so với năm 2023 và tương đương với số liệu cuối quý 2/2023. Tổng số nợ xấu tăng mạnh so với cuối 2023, mặc dù vẫn thấp hơn mức đỉnh giữa năm 2023. Tổng số nợ xấu của 27 NHNY tăng lên trên 221 nghìn tỷ đồng, tăng 14% trong Q1/2024 hoặc 31.3% so với cùng kỳ. Đặc tính chung của các ngân hàng có tốc độ gia tăng nợ xấu cao là sở hữu danh mục tín dụng cân bằng giữa các nhóm khách hàng, trong khi những ngân hàng có tỷ trọng nhóm KHCN cao lại thể hiện sự cải thiện về chất lượng tài sản. Qua đó có thể thấy sự gia tăng nợ xấu không phải quá bất thường, vì các doanh nghiệp thường có khả năng chống chịu lâu hơn trước những biến động kinh tế. Ngoài ra, ngoài việc kinh tế không phục hồi mạnh mẽ như mong đợi trong quý 1/2024, tình trạng trầm lắng của thị trường BĐS cũng đã làm tăng nợ xấu trong danh mục cho vay mua nhà.

Quá trình xử lý nợ xấu nhiều khả năng sẽ kéo dài hơn dự kiến: Về mặt tích cực, NHNN được kỳ vọng sẽ gia hạn thời gian hiệu lực của thông tư 02/2023, qua đó kéo giãn thời gian ghi nhận/hình thành nợ xấu cho đến cuối năm 2024, chờ tình hình tổng quan khơi sắc hơn. Ngoài ra, NHNN cũng đã cố gắng duy trì lãi suất thấp để hỗ trợ các đối tượng vay, nhằm ngăn ngừa các khoản nợ xấu mới phát sinh mới.

Ngược lại, vẫn có nhiều yếu tố cả mới và hiện hữu sẽ làm giảm tốc quá trình hồi phục chất lượng tài sản của nhóm ngân hàng. Đầu tiên, kể cả khi kinh tế đạt mức tăng trưởng 6-6.5% cho năm 2024 theo mục tiêu từ Quốc hội đề ra thì vẫn chưa đạt được mức tăng trưởng trước COVID và chưa kể đến là lạm phát hiện đang ở mức cao cũng ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng thật. Hơn nữa, chiến dịch chống tham nhũng cũng ảnh hưởng tiêu cực đến cả phía người mua và các nhà phát triển BĐS, làm giảm tốc sự phục hồi của ngành BĐS nói chung hay kéo dài tình trạng khó khăn tài chính của các bên tham gia thị trường này. Nhìn chung, chặng đường hồi phục chất lượng tài sản của ngành ngân hàng sẽ mất nhiều thời gian hơn so với dự kiến ban đầu là nửa sau năm 2024.

Ngành ngân hàng Gập ghềnh con đường hồi phục
Các chỉ số chất lượng tài sản nhìn chung ghi nhận giảm trong quý 1/2024

Tỷ lệ dự phòng trên nợ xấu (LLR) giảm nhẹ trong Quý 1: LLR trung bình của các NHNY giảm xuống mức thấp nhất trong 3 năm còn 87.9%, giảm 6.7%p sv.2023. Bên cạnh đó, số dư nợ tái cơ cấu theo Thông tư 02 được một vài ngân hàng công bố cũng ghi nhận xu hướng tăng, cho thấy khó khăn vẫn tương đối lớn. Dù vậy, tỷ lệ nợ nhảy nhóm sau cơ cấu và lỗ trong trường hợp phát sinh nợ xấu theo các ngân hàng là không cao. Vì vậy, nợ xấu phát sinh mới kỳ vọng sẽ giảm dần trong các quý tới trong khi tỷ lệ LLR giảm có thể một phần là do tác động của nợ xấu tăng cao trong tháng cuối quý (theo quy định là chưa phải trích lập). Ngoài ra, với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận tương đối tích cực trong Q1/2024, hầu hết các ngân hàng sẽ không gặp quá nhiều khó khăn trong vấn đề trích lập dự phòng cần thiết.

Theo dữ liệu, nghĩa vụ nợ phải trả phát sinh trong năm 2023 và 2024 sẽ đạt đỉnh đối với các công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản và xây dựng. Tuy nhiên, dù đã đi qua gần hết Q2/2024, Việt Nam vẫn rất may mắn khi chưa ghi nhận sự việc khủng hoảng nợ nào quá lớn. Bên cạnh việc được cho phép trì hoãn thực hiện nghĩa vụ nợ, nhiều trái chủ cũng đã đồng ý chuyển nợ thành vốn chủ sở hữu, phần nào tạm thời giải quyết khó khăn tài chính cho các nhà phát triển BĐS.

Về mặt pháp lý, các cơ quan chức năng cũng đang cố đẩy nhanh quá trình đưa luật mới vào áp dụng nhằm tháo gỡ những nút thắt trong lĩnh vực BĐS. Mặc dù không phải tất cả các quy định mới đều hoàn toàn có lợi cho phía các công ty BĐS, nhưng kỳ vọng quy trình pháp lý tổng thể sẽ cụ thể và mạch lạc hơn. Khả năng tái khởi động các dự án cũng sẽ khơi thông dòng tiền. Đối với lượng trái phiếu đáo hạn có giá trị tương đối trong Q4/2024 thuộc phân loại “khác”, đa phần hoạt động trong các lĩnh vực như hàng tiêu dùng, chế tạo sản xuất và các công ty này đều liên kết với các tập đoàn lớn ở Việt Nam với tình hình tài chính đang khá ổn định như như VinGroup, Sovico, Thaco, Masan và Masterise. Vì vậy, nghĩa vụ nợ chuẩn bị phát sinh trong kỳ này tuy cao nhưng không phải quá đặc biệt.

Đường hồi phục gập ghềnh

Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) ghi nhận mức giảm nhẹ trong quý 1/2024 và dự báo lãi suất điều chỉnh tăng có thể tạm hoãn xu hướng hồi phục CASA trong ngắn hạn: Trong kỳ, một số ít ngân hàng như TCB và ACB có CASA tiếp tục cải thiện, tỷ lệ này trung bình giảm khoảng 1%p trong kỳ. Nguyên nhân chính khiến CASA giảm là do tác động của kỳ nghỉ Tết với nhu cầu chi tiêu tăng cao. Ngoài ra, nhiều nhà đầu tư BĐS cá nhân cũng đã sử dụng vốn tích trữ để trả thanh toán nợ trước kỳ hạn, theo chia sẻ từ các ngân hàng. Theo đánh giá thì các yếu tố này vẫn tương đối tạm thời và ngắn hạn, và yếu tố bất định chính là xu hướng lãi suất trong thời gian tới. Mặc dù nhiều khả năng tăng lãi suất, nhưng mặt bằng lãi suất khó có thể đạt đến mức cao như trong giai đoạn 2022–2023, vì NHNN sẽ cố gắng cân bằng giữa các mục tiêu như hỗ trợ kinh tế, ổn định tỷ giá hối đoái, và kiềm chế lạm phát.

Biên lãi thuần (NIM) cho thấy diễn biến phân hóa cũng như phản ánh những thách thức tồn tại trong quá trình phục hồi: Tỷ lệ NIM trung bình của các NHNY ghi nhận mức giảm nhẹ khoảng 27bps sv.2023 . Mặc dù xu hướng phục hồi bị tạm hoãn, tỷ lệ NIM trung bình hiện tại vẫn cao hơn so với mức thấp ghi nhận trong quý 2 và 3 năm 2023. Các chất xúc tác hỗ trợ xu hướng tăng của NIM trong thời gian tới như gia tăng chênh lệch lãi suất và đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng vẫn duy trì. Mặc dù NIM sẽ khó quay lại giai đoạn cực kỳ thuận lợi như 2021-2022, tuy nhiên, MASVN vẫn kỳ vọng là NIM sẽ tiếp tục hồi phục tương đối trong ngắn hạn.

Ngành ngân hàng Gập ghềnh con đường hồi phục

Trong quý 1 năm 2024, lợi nhuận trước thuế của 27 NHNY ghi nhận mức tăng gần 10% sv.ck., thể hiện một quý tương đối khởi sắc: Đáng chú ý, trong nhóm các ngân hàng đặt mục tiêu LNTT trên 10 nghìn tỷ cho năm 2024 đi kèm tăng trưởng cao, thì đa phần lợi nhuận trong quý 1 vẫn theo đúng lộ trình. Về cấu trúc thu nhập, động lực chính cho tăng trưởng thu nhập là thu nhập thuần từ hoạt động cho vay, tăng khoảng 8.7% sv.ck. Trong khi đó, thu nhập thuần từ cung cấp dịch vụ và thu nhập khác chỉ tăng nhẹ lần lượt là 2.1% và 1.4% sv.ck. Ở chiều ngược lại, các loại chi phí tăng vừa phải, với chi phí hoạt động tăng 6.5% sv.ck. và dự phòng tăng 5.7% sv.ck..

Theo kế hoạch kinh doanh cho năm 2024 từ 25 NHNY (ngoại trừ BID và CTG chưa công bố chính thức), tổng LNTT của nhóm được kỳ vọng tăng khoảng 35.5% sv. 2023, tương đương với mức tăng trưởng bùng nổ trong giai đoạn 2021–2022. Thông thường, đa phần các ngân hàng sẽ đặt mục tiêu vừa tầm với khả năng hoàn thành cao (các ngân hàng thường vượt mục tiêu của họ từ 3%–7% trong những năm trước), ngoại trừ năm 2023 là một trường hợp khá đặc biệt mặc dù đã lên kế hoạch khá thận trọng.

Các yếu tố hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận bao gồm chi phí hoạt động ổn định, do hầu hết các ngân hàng đã ước tính chi phí đầu tư công nghệ và tinh giản nhân lực để tối ưu hóa chi phí. Trong khi chi phí dự phòng dù khó giảm trong năm 2024, nhưng đa phần các ngân hàng đã thích nghi với "bình thường mới“, nên lợi nhuận sẽ không chịu quá nhiều áp lực. Ngoài ra, khả năng cao là Thông tư 02 sẽ được gia hạn cũng như nhiều ngân hàng tái tận dụng công cụ trái phiếu đặc biệt (VAMC) nếu nhận thấy việc trích lập dự phòng trong thời gian dài hơn khi để trong nội bảng là cần thiết.

Về phía thu nhập, tăng trưởng tín dụng ổn định và dự kiến NIM vẫn còn dư địa phục hồi là động lực tốt cho kỳ vọng tăng trưởng thu nhập, trong khi các nguồn thu nhập ngoài lãi đóng vai trò là nhân tố tiềm năng thúc đẩy lợi nhuận đối với các ngân hàng.

Cơ hội đầu tư cổ phiếu ngân hàng

Mặc dù kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều dấu hiệu phục hồi trong Q1/2024, nhưng bên cạnh các mục tiêu tăng trưởng chung, thì áp lực từ các vấn đề như lạm phát và ổn định tỷ giá vẫn rất quan trọng. Đối với ngành ngân hàng, nhà điều hành vẫn cần cân bằng những mục tiêu này đồng thời kiểm soát chất lượng tài sản của ngân hàng. Các khó khăn vẫn đang tương đối nổi trội phần nào khiến nhà đầu tư thận trọng hơn.

Ngành ngân hàng Gập ghềnh con đường hồi phục

Đối với ngành ngân hàng hay chỉ số nói chung, mặc dù hiệu suất đầu tư so với đầu năm là rất tích cực, tuy nhiên so với đỉnh xác lập vào cuối tháng 2 thì không quá đột phá, trong khi một số ngân hàng còn ghi nhận mức điều chỉnh tương đối. Diễn biến giá của ngành tích cực hơn so với mặt bằng chung (chỉ số) phản ánh triển vọng hồi phục của nhóm này tốt hơn so với đa phần các ngành khác.

Tuy nhiên, việc nhóm nhà đầu tư ngoại liên tục rút ròng do nhiều yếu tố khách quan, cũng ảnh hưởng đến tiềm năng tăng giá của nhóm ngân hàng vì tỷ trọng sở hữu của khối ngoại trong ngành ngân hàng khá cao. Ngoài ra trong ngắn hạn, áp lực tỷ giá và lạm phát có thể ảnh hưởng tới quyết định can thiệp của NHNN bằng cách hút bớt thanh khoản trong nền kinh tế, phần nào ảnh hưởng đến triển vọng chung của thị trường chứng khoán trong ngắn hạn.

Mặc dù triển vọng ngành ngân hàng vẫn còn nhiều ẩn số, MASVN cho rằng vẫn có nhiều cơ hội đầu tư đối với nhóm ngành này. Những thay đổi mới trong Luật đất đai cho thấy rào cản tham gia thị trường BĐS đối với các doanh nghiệp mới dần trở nên khó khăn hơn. Do đó, các ngân hàng có quan hệ đối tác chặt chẽ với các nhà phát triển BĐS có lợi thế hơn trong tăng trưởng tín dụng đối với mảng KHCN (cho vay mua nhà) cả ngắn hạn và trung hạn như TCB, HDB, MBB và VPB.

Ngoài ra, khả năng tăng lãi suất dự kiến dẫn đến chi phí tín dụng cao hơn trong các quý tới, trong khi các ngân hàng vốn đã làm quen với chi phí tín dụng cao trong giai đoạn từ năm 2020, được kỳ vọng sẽ không có quá nhiều biến động như VPB và VIB. Ngoài ra, hai ngân hàng này còn có thêm lợi thế từ nền lợi nhuận thấp và định giá tương đối hấp dẫn, cũng là một cơ hội đầu tư đáng xem xét.

PV