Giá cao su thế giới hôm nay (14/9) biến động không đồng nhất. Trên sàn Thượng Hải tăng - giảm trái chiều, sàn SGX Singapore tiếp tục giảm, trong khi sàn Tocom Nhật Bản hầu như đi ngang. Giá cao su giảm tuần qua do chi phí nguyên liệu đầu vào cao trong khi giá cao su thành phẩm lại giảm, khiến biên lợi nhuận của nhà sản xuất bị thu hẹp.
Giá cao su thế giới
Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su trên Sàn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc biến động không đồng nhất. Cụ thể, tại kỳ hạn tháng 9/2025 tăng nhẹ 10 NDT/tấn (+ 0,07%), lên mức 14.835 NDT/tấn; kỳ hạn tháng 10/2025 giảm 45 NDT/tấn (- 0,29%), về mức 14.910 NDT/tấn.
Trên sàn Tocom - Nhật Bản, giá cao su RSS3 trong phiên trực tuyến sáng nay duy trì ổn định. Cụ thể, hợp đồng giao tháng 9/2025 tăng nhẹ 0.20 Yên/kg (+ 0,06%), hiện ở mức 323.20 Yên/kg; kỳ hạn tháng 10/2025 không đổi, giữ ở mức 321.90 Yên/kg.
Trên sàn SGX - Singapore, giá cao su TSR20 tiếp tục giảm tại các kỳ giao hàng. Cụ thể, hợp đồng giao tháng 10/2025 giảm 0.70 cent/kg, về mức 173.10 cent.
Theo bà Farah Miller, nhà sáng lập Helixtap Technologies, việc chi phí đầu vào tăng nhưng giá bán đầu ra giảm đang khiến các nhà sản xuất gặp khó, trong khi người mua tỏ ra thận trọng, chờ giá ổn định mới quay lại thị trường giao ngay.
Diễn biến giá dầu cũng góp phần gây sức ép lên thị trường cao su. Giá dầu thô giảm do lo ngại dư cung, trong khi cao su tự nhiên thường biến động cùng chiều với dầu bởi cạnh tranh trực tiếp với cao su tổng hợp, sản phẩm chế biến từ dầu mỏ. Ngoài ra, Cục Khí tượng Thái Lan đã cảnh báo mưa lớn trong giai đoạn 15–17/9, có thể ảnh hưởng đến nguồn cung cao su tự nhiên từ nước sản xuất hàng đầu thế giới này.
Về nhu cầu, ngành ô tô – lĩnh vực tiêu thụ cao su lớn nhất thông qua sản xuất lốp xe đang chững lại. Dữ liệu từ Rho Motion cho thấy doanh số xe điện toàn cầu tháng 8 tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, mức thấp nhất kể từ tháng 1. Tại Trung Quốc, thị trường ô tô lớn nhất thế giới, tăng trưởng xe điện chỉ đạt 6% trong tháng 8, giảm mạnh so với mức trung bình 36%/tháng nửa đầu năm và 21% trong tháng 7.
Không chỉ tại châu Á, châu Âu cũng chứng kiến sự suy giảm đáng kể của ngành cao su. Hiệp hội Công nghiệp Cao su Đức (WDK) báo cáo ngày 11/9 rằng, sản lượng cao su trong nửa đầu năm 2025 giảm 8,2% so với cùng kỳ, xuống còn 560.000 tấn. Trong đó, sản xuất lốp xe đạt 220.000 tấn (giảm 8,2%), còn các sản phẩm cao su kỹ thuật đạt 340.000 tấn (giảm 8,1%).
Công suất sử dụng toàn ngành trung bình chỉ đạt 77,8%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý, trong khi các nhà sản xuất lốp giữ ổn định ở mức 80%, thì lĩnh vực sản phẩm cao su kỹ thuật giảm xuống 75,6%. Việc cắt giảm sản xuất cũng kéo theo số lượng việc làm trong ngành giảm 6,2%, còn 60.200 lao động .
Doanh thu ngành trong nửa đầu năm chỉ đạt 5,42 tỷ euro, giảm 7,7% so với cùng kỳ 2024. Doanh số lốp xe giảm 8,2% xuống 1,91 tỷ euro, trong đó thị trường nội địa chiếm 1,4 tỷ euro và xuất khẩu 510 triệu euro. Doanh số sản phẩm cao su kỹ thuật đạt 3,51 tỷ euro, giảm 7,4% với mức sụt giảm mạnh hơn ở thị trường nội địa (-10,9%) so với xuất khẩu (-3,4%).
Chủ tịch WDK, ông Michael Klein, nhận định: “Chúng tôi thấy những con số đỏ trên mọi phương diện: doanh thu, sản lượng, việc làm và tiêu thụ trong nước. Điều này phản ánh tình trạng khó khăn nghiêm trọng của ngành cao su Đức.” Ông kêu gọi chính phủ nhanh chóng hiện thực hóa các cải cách đã hứa hẹn nhằm giảm bớt gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp, thay vì chỉ dừng ở cam kết.
Giá cao su trong nước
Trong nước, các doanh nghiệp bình ổn giá cao su. Cụ thể, Công ty MangYang báo giá thu mua mủ nước khoảng 388 - 399 đồng/TSC (loại 2 - loại 1); mủ đông tạp bình ổn khoảng 346 - 395 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).
Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua mủ nước ở mức 405 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.200 đồng/kg; mủ nguyên liệu ghi nhận 19.000 đồng/kg.
Công ty Phú Riềng chào giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 422 đồng/độ TSC/kg, giá thu mua tại đội sản xuất 412 đồng/TSC/kg; còn giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
PV