Giá lúa trong nước tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực, đặc biệt ở các loại lúa chất lượng cao như Đài Thơm 8 và OM 5451. Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam vẫn giữ ở mức cao, củng cố vị thế trên thị trường toàn cầu. Với các dự báo lạc quan từ USDA, ngành lúa gạo Việt Nam hứa hẹn sẽ tiếp tục đạt được thành công trong thời gian tới.
Giá lúa gạo trong nước
theo cập nhật từ Sở NN&PTNT tỉnh An Giang gạo nguyên liệu IR 504 Hè thu tăng 50 đồng/kg lên mức 10.400 - 10.500 đồng/kg; Gạo thành phẩm IR 504 tăng nhẹ lên 12.400 - 12.550 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm, giá phụ phẩm các loại dao động trong khoảng từ 6.000 - 9.400 đồng/kg. Hiện, giá tấm OM 5451 tăng nhẹ ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; riêng giá cám khô dao động ở mức 6.000 - 6.100 đồng/kg.
Tại Sa Đéc (Đồng Tháp) gạo thơm và dẻo ít ghe, gạo ngang có lai rai. Các kho chợ mua đều gạo thơm, giá nhích. Gạo ngang chậm mua hơn. Tại Lấp Vò - Vàm Cống (Đồng Tháp) nguồn về lai rai, lượng ít, chất lượng trung trung- khá. Nhu cầu Kho mua đều, gạo OM5451 và Thơm giá tăng.
Tại các chợ lẻ giá gạo tiếp đà đi ngang khi giá gạo thường dao động quanh mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg. Gạo thơm chào giá cao dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa 21.500 đồng/kg; thơm thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 21.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 18.500 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 21.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.500 đồng/kg.
Tương tự, với mặt hàng lúa, lúa IR 50404 tăng 100 đồng/kg lên mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; lúa OM 380 dao động ở mức 6.800 - 7.000 đồng/kg; lúa OM 18 có giá 8.400 - 8.600 đồng/kg; Nàng Hoa 9 có giá 8.400 - 8.600 đồng/kg; lúa Nhật ở mốc 7.800 - 8.000 đồng/kg.
Tại nhiều địa phương hôm nay nguồn lúa thu hoạch các khu vực đồng bắt đầu chín nhiều, nhu cầu hỏi mua lúa thơm và dẻo có khá. Nguồn lúa có ít, giao dịch lai rai, nông dân chào bán lúa giá cao.
Giá gạo thế giới
Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục duy trì ổn định. Gạo 5% tấm ở mức 517 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với Thái Lan (483 USD/tấn) và Pakistan (453 USD/tấn). Gạo 25% tấm và 100% tấm giảm nhẹ, lần lượt còn 483 USD/tấn và 408 USD/tấn.
Các quốc gia khác như Ấn Độ duy trì giá gạo 5% tấm ở mức 448 USD/tấn, thấp nhất trong khu vực.
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2024-2025 được dự báo đạt kỷ lục 533,8 triệu tấn, tăng 11,6 triệu tấn so với niên vụ trước. Ấn Độ dẫn đầu với sản lượng 145 triệu tấn, tăng 7,2 triệu tấn so với năm ngoái.
Tiêu thụ gạo toàn cầu cũng được dự báo đạt mức cao nhất từ trước đến nay với 530,5 triệu tấn, thặng dư 3,3 triệu tấn. Tồn kho gạo cuối kỳ được dự báo đạt 182,6 triệu tấn, mức cao nhất kể từ năm 2021-2022.
Trung Anh (t/h)