Thị trường lúa gạo trong nước hôm nay không có nhiều biến động, gạo thơm đẹp được bán với giá cao. Trong khi đó, xuất khẩu gạo Việt Nam đạt kỷ lục, nhưng thách thức lớn đang đến từ thị trường Indonesia khi quốc gia này dự kiến ngừng nhập khẩu gạo từ năm 2025.
Gạo thơm đẹp giá cao
Theo cập nhật từ Sở NN&PTNT hiện lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 7.600 - 7.800 đồng/kg; lúa OM 5451 ở mức 7.800 – 8.000 đồng/kg; lúa OM 380 dao động ở mốc 7.000 đồng/kg; lúa OM 18 (tươi) ở mốc 8.800 - 9.000 đồng/kg; Nàng Hoa 9 có giá 8.400 - 8.600 đồng/kg; lúa Nhật ở mốc 7.800 - 8.000 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 8.800 - 9.100 đồng/kg.
Tại nhiều địa phương hôm nay, nông dân neo giá bán cao, lượng ít, giao dịch cầm chừng. Tại Long An, nhu cầu mua lúa Thu Đông chậm, giá lúa vững. Tại Đồng Tháp, lúa Thu Đông còn lại lượng ít, giá vững, giao dịch cầm chừng.
Tại An Giang, Kiên Giang nhu cầu mua có đều với lúa thơm, giao dịch chốt lai rai, nông dân neo giá bán cao. Còn tại Sóc Trăng, thu hoạch khá hơn, giao dịch mới có lai rai.
Tương tự, với mặt hàng gạo, theo cập nhật từ Sở NN&PTNT tỉnh An Giang, gạo nguyên liệu IR 504 giảm dao động ở mức 10.200 - 10.300 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở mức 12.300 - 12.400 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm, giá phụ phẩm các loại dao động trong khoảng từ 5.700 - 9.400 đồng/kg. Hiện, giá tấm thơm giảm 100 đồng/kg dao động ở mốc 9.200 - 9.400 đồng/kg; giá cám dao động ở mốc 5.700 - 5.800 đồng/kg.
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng lai rai, ít gạo, kho mua vào đều, gạo thơm và dẻo đẹp giá cao.
Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang) gạo có lai rai, đa số mặt gạo yếu, ít gạo đẹp, giá ổn định. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp) lượng về lai rai, các Kho hỏi mua nhiều hơn gạo. Tại Lấp Vò, ít gạo, kho mua vào đều, giá mua vững.
Gạo chợ Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo nguyên liệu có lượng ít, giao dịch bình ổn, gạo đẹp kho vẫn khó mua được hàng. Gạo thơm và dẻo đẹp giá cao.
Tại các chợ lẻ giá giá gạo không nhiều biến động so với hôm qua. Gạo thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg. Gạo thơm chào giá cao dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa 21.500 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 17.500 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 21.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 18.500 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 21.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.500 đồng/kg.
Xuất khẩu gạo đối mặt thách thức mới
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ổn định và giữ vững vị thế dẫn đầu khu vực. Gạo trắng 5% tấm của Việt Nam hiện được chào bán ở mức 520 USD/tấn, cao hơn so với sản phẩm cùng loại từ Thái Lan (493 USD/tấn) và Pakistan (455 USD/tấn). Trong khi đó, giá gạo 5% tấm của Ấn Độ vẫn ở mức thấp nhất, chỉ 453 USD/tấn.
Theo Tổng cục Hải quan, tính đến ngày 15/11, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 8 triệu tấn gạo, thu về 5,05 tỷ USD. Đây là mức cao kỷ lục trong lịch sử ngành xuất khẩu gạo của Việt Nam.
Xuất khẩu gạo gặp thách thức từ thị trường Indonesia. (Ảnh minh hoạ/TL)
Dù xuất khẩu gạo Việt Nam đang đạt kết quả ấn tượng, ngành lúa gạo nước ta sắp đối mặt với thách thức lớn từ thị trường Indonesia. Theo Bộ trưởng Lương thực Indonesia, nước này có thể ngừng nhập khẩu gạo từ năm 2025 để hướng tới mục tiêu tự cung tự cấp lương thực vào năm 2027.
Hiện tại, Indonesia chỉ còn nhập khẩu phần nhỏ gạo để bù đắp hạn ngạch lương thực còn thiếu trong năm nay. Mặc dù vậy, các loại gạo chuyên dụng của Việt Nam, được ưa chuộng tại các khách sạn và khu nghỉ dưỡng, vẫn có cơ hội thâm nhập thị trường.
Tuy nhiên, nếu chính phủ Indonesia thành công trong việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp thêm 750.000 ha và tăng sản lượng thêm 2,5 triệu tấn, nhu cầu nhập khẩu gạo từ Việt Nam sẽ giảm đáng kể.
Theo dự báo, việc Indonesia ngừng nhập khẩu gạo có thể khiến kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam thâm hụt tới 700 triệu USD. Chỉ riêng 10 tháng đầu năm nay, xuất khẩu gạo Việt Nam sang Indonesia đã đạt gần 1,09 triệu tấn, mang lại hơn 655 triệu USD.
Trong bối cảnh này, ngành lúa gạo Việt Nam cần tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm và tìm kiếm thêm thị trường mới. Các chính sách hỗ trợ từ phía nhà nước, cùng với việc mở rộng xuất khẩu vào các thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ, và Trung Đông, sẽ là chìa khóa để duy trì đà tăng trưởng trong thời gian tới.
Hoàng Huyền (t/h)