Thị trường lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận biến động trái chiều, với giá gạo tăng nhẹ trong khi giá lúa giảm. Trên thị trường châu Á, giá gạo tại các nước khác đồng loạt tăng, riêng giá gạo Việt Nam duy trì ổn định.
Giá lúa gạo hôm nay
Giá lúa gạo hôm nay tại khu vực ĐBSCL biến động nhẹ. Thị trường lượng ít, gạo trong nước tương đối bình ổn, lúa tươi vững giá so với cuối tuần. Cụ thể:
Với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cuối ngày 28/4, giá lúa OM 18 (tươi) dao động ở mốc 6.900 - 7.050 đồng/kg; giá lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.900 - 7.050/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 6.500 - 6.700/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; giá lúa OM 380 (tươi) dao đồng ở mốc 5.900 - 6.000 đồng/kg; giá lúa Nàng Hoa 9 dao động ở mức 6.650 - 6.750 đồng/kg.
Tại nhiều địa phương hôm nay, ghi nhận giao dịch mua bán lúa khô chậm, giá vững; lúa Hè Thu cắt sớm nông dân chào bán lai rai. Theo đó, tại An Giang và Cần Thơ, lúa Hè Thu chào bán ít, giao dịch chậm, giá đứng; Tại Kiên Giang, lúa Hè Thu vững giá, giao dịch mua bán vắng, nhiều thương lái nghỉ lễ. Tại Long An, nguồn lai rai, thương lái hỏi mua vắng, chủ yếu lấy lúa đã cọc, giá vững.
Với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu IR 504 tăng 50 đồng/kg dao động ở mức 8.050 - 8.250 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 tăng 100 đồng/kg dao động ở mức 8.400 – 8.700 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 18 dao động ở mức 10.200 - 10.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 380 dao động ở mức 7.700 - 7.850; gạo nguyên liệu 5451 dao động ở mức 9.600 - 9.750/kg; gạo thành phẩm OM 380 dao động ở 8.800 - 9.000 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, một số kho chuẩn bị nghỉ lễ, thị trường bình ổn. Theo đó, tại An Giang và Lấp Vò (Đồng Tháp), lượng lai rai, giao dịch gạo chậm, giá gạo các loại bình ổn; Kênh chợ Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, kho mua chậm, giá bình ổn. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), vắng ghe, bạn hàng chào bán gạo dựa lại, giá đứng.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.450 - 9.000 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 7.450 - 7.600 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 8.000 - 9.000 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo các loại bình ổn so với hôm qua. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 15.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 16.000 - 18.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 17.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
iá lúa gạo hôm nay tại khu vực ĐBSCL biến động nhẹ. Thị trường lượng ít, gạo trong nước tương đối bình ổn, lúa tươi vững giá so với cuối tuần. Cụ thể:
Với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang ngày 28/4, giá lúa OM 18 (tươi) dao động ở mốc 6.900 - 7.050 đồng/kg; giá lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.900 - 7.050/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 6.500 - 6.700/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; giá lúa OM 380 (tươi) dao đồng ở mốc 5.900 - 6.000 đồng/kg; giá lúa Nàng Hoa 9 dao động ở mức 6.650 - 6.750 đồng/kg.
Tại nhiều địa phương hôm nay, ghi nhận giao dịch mua bán lúa khô chậm, giá vững; lúa Hè Thu cắt sớm nông dân chào bán lai rai. Theo đó, tại An Giang và Cần Thơ, lúa Hè Thu chào bán ít, giao dịch chậm, giá đứng; Tại Kiên Giang, lúa Hè Thu vững giá, giao dịch mua bán vắng, nhiều thương lái nghỉ lễ. Tại Long An, nguồn lai rai, thương lái hỏi mua vắng, chủ yếu lấy lúa đã cọc, giá vững.
Với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu IR 504 tăng 50 đồng/kg dao động ở mức 8.050 - 8.250 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 tăng 100 đồng/kg dao động ở mức 8.400 – 8.700 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 18 dao động ở mức 10.200 - 10.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 380 dao động ở mức 7.700 - 7.850; gạo nguyên liệu 5451 dao động ở mức 9.600 - 9.750/kg; gạo thành phẩm OM 380 dao động ở 8.800 - 9.000 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, một số kho chuẩn bị nghỉ lễ, thị trường bình ổn. Theo đó, tại An Giang và Lấp Vò (Đồng Tháp), lượng lai rai, giao dịch gạo chậm, giá gạo các loại bình ổn; Kênh chợ Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, kho mua chậm, giá bình ổn. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), vắng ghe, bạn hàng chào bán gạo dựa lại, giá đứng.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.450 - 9.000 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 7.450 - 7.600 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 8.000 - 9.000 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo các loại bình ổn so với hôm qua. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 15.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 16.000 - 18.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 17.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Giá gạo xuất khẩu
Dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho thấy, giá gạo 5% tấm của Việt Nam tiếp tục giữ ổn định ở mức 395 USD/tấn trong ngày đầu tuần.
Theo số liệu của Cục Hải quan, tính từ đầu năm đến ngày 15/4/2025, Việt Nam đã xuất khẩu 2,85 triệu tấn gạo, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, do giá gạo xuất khẩu trung bình giảm 20,1%, từ mức 647 USD/tấn tại cùng kỳ năm trước xuống còn 517 USD/tấn, nên kim ngạch xuất khẩu gạo chỉ đạt 1,47 tỷ USD, giảm 14,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong khi đó, giá gạo 5% xuất khẩu của Thái Lan tăng 6 USD/tấn trong phiên giao dịch ngày 28/4, lên 406 USD/tấn. Sản phẩm cùng loại tại Ấn Độ và Pakistan cũng tăng nhẹ 1 USD/tấn, lần lượt đạt 379 USD/tấn và 388 USD/tấn.
Các thương nhân cho biết, đà tăng này chủ yếu là do biến động tỷ giá, mặc dù nhu cầu vẫn yếu.
Businessmirror đưa tin, theo số liệu từ Cục Công nghiệp Thực vật (BPI), tính đến ngày 17/4, nhập khẩu gạo của Philippines đạt 1,08 triệu tấn.
Trong đó, Việt Nam tiếp tục là nhà cung cấp hàng đầu của nước này với khối lượng đạt 907.626 tấn. Theo sau là Thái Lan với 78.223 tấn. Các nguồn cung khác gồm Pakistan (69.627 tấn), Myanmar (13.057 tấn) và Ấn Độ (7.624 tấn).
Cũng theo dữ liệu của BPI, cơ quan này đã phê duyệt và cấp 2.359 giấy phép kiểm dịch động thực vật (SPSIC) với tổng cộng 1,89 triệu tấn gạo nhập khẩu.
Năm 2024, Philippines đã đạt mốc 1 triệu tấn ngay trong quý I, với tổng lượng nhập đạt 1,19 triệu tấn.
Tuy nhiên, lượng gạo nhập khẩu đang có xu hướng giảm trong năm nay, khi mức trung bình hàng tháng chỉ đạt 270.000 tấn, thấp hơn nhiều so với gần 400.000 tấn cùng kỳ năm ngoái.
Các nguồn tin trong ngành và các quan chức Bộ Nông nghiệp (DA) cho biết gạo nhập khẩu giảm là do sản lượng lúa nội địa dự kiến phục hồi và điều kiện thời tiết cải thiện.
Trợ lý Bộ trưởng Nông nghiệp, ông Arnel de Mesa, cho biết lượng hàng nhập khẩu sẽ giảm trong năm nay sau khi đã ghi nhận mức cao kỷ lục 4,8 triệu tấn trong năm 2024.
“Mức nhập khẩu gạo hợp lý năm nay sẽ vào khoảng 3,8 - 4 triệu tấn”, ông De Mesa cho biết trong một cuộc phỏng vấn trước đó. “Nếu xu hướng này tiếp tục, lượng gạo nhập khẩu chắc chắn sẽ giảm”, ông nói thêm.
Năm nay, Bộ Nông nghiệp đặt mục tiêu sản lượng lúa trở lại mốc 20 triệu tấn, cụ thể là 20,46 triệu tấn.
Sản lượng lúa năm 2024 đạt 19,09 triệu tấn, thấp hơn mức kỷ lục 20,06 triệu tấn của năm trước đó.
Hoàng Hậu