08:07 03/01/2025

Giá lúa gạo hôm nay 3/1: Thị trường trầm lắng sau kỳ nghỉ lễ

Giá lúa gạo hôm nay (3/1) tại Đồng bằng sông Cửu Long không có nhiều biến động mới. Mặt bằng giá gạo năm 2025 được cho là sẽ thấp hơn năm 2024 do nguồn cung thế giới phục hồi trở lại.

Giá lúa gạo hôm nay

Theo cập nhật từ Sở NN&PTNT An Giang hiện gạo nguyên liệu tăng 50 đồng/kg IR 504 dao động ở mức 9.050 - 9.200 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 10.600 - 10.800 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm, giá phụ phẩm các loại dao động khoảng từ 5.900 - 8.000 đồng/kg. Hiện, giá tấm thơm dao động ở mức 7.800 - 8.000 đồng/kg; giá cám khô dao động ở mức 5.900 - 6.000 đồng/kg.

Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về ít, giá gạo các loại tương đối ổn định, giao dịch chậm. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng về lai rai, các kho xuất mua cầm chừng, giá tương đối ổn định. Tại Lấp Vò - Vàm Cống (Đồng Tháp), giao dịch tiếp tục chậm, ít kho mua, gạo thơm mua lai rai, giá các loại tương đối ổn định.

Giá lúa gạo hôm nay 31 Thị trường trầm lắng sau kỳ nghỉ lễ
Ảnh minh hoạ/TL

Kênh chợ Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng về lai rai, kho mua đều gạo thơm, lựa gạo khá - đẹp mới mua, giá gạo các loại tương đối ổn định. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo về lượng lai rai, đa số mặt gạo yếu, giá ổn định, vắng người mua.

Tại các chợ lẻ, gạo bình giá so với hôm qua. Gạo thường dao động ở mốc 17.000 - 18.000 đồng/kg. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg. Gạo thơm chào giá cao dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa 21.500 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 17.500 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 21.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 18.500 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 21.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.500 đồng/kg.

Tương tự, với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở NN&PTNT An Giang, hiện giá lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 7.400 - 7.600 đồng/kg; lúa OM 5451 dao động ở mốc 8.400 - 8.500 đồng/kg; lúa OM 18 (tươi) dao động ở mốc 8.700 - 8.900 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 8.800 – 9.000 đồng/kg; lúa OM 380 ở mức 6.600 - 6.700 đồng/kg; lúa Nàng Hoa 9 ở mức 9.200 đồng/kg; lúa Nhật ở mốc 7.800 - 8.000 đồng/kg.

Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay giá lúa ổn định, giao dịch mới ngưng trệ. Tại Đồng Tháp, giao dịch lúa Đông Xuân sớm chậm, ít người mua, nông dân chào bán đều lúa sắp cắt trong 1 tuần - 10 ngày tới. Tại Sóc Trăng, giao dịch lúa ngưng trệ, nông dân chào bán khá nhưng vắng người mua.

Tại Bạc Liêu, giao dịch lúa mới ngưng trệ, thương lái chủ yếu lấy lúa đã cọc, giá lúa ít biến động. Tại Kiên Giang, thu hoạch lúa Mùa đồng 1 vụ/năm có lai rai tại An Biên song lượng có ít, giao dịch mới chậm.

Giá gạo xuất khẩu

Vượt qua những con số ấn tượng năm 2023, xuất khẩu gạo năm 2024 lần đầu đạt 9 triệu tấn, thu về 5,8 tỷ USD, tăng 10,6% về lượng nhưng tăng tới 23% về giá trị.

Giá gạo xuất khẩu bình quân năm 2024 cũng tăng 16,7% so với năm 2023. Đây là bước bứt phá vô cùng ấn tượng sau 35 năm kể từ khi Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo.

Theo dự báo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ, nguồn cung lúa gạo toàn cầu năm 2025 sẽ tăng và sản lượng xuất khẩu gạo toàn cầu năm 2025 sẽ cao hơn năm 2024 khoảng 2,3 triệu tấn lên 56,3 triệu tấn.

Nhu cầu nhập khẩu  ở một số thị trường như Philippines, Trung Quốc và Nepal cũng được dự đoán tăng lên nhờ giá dự kiến sẽ giảm nhiệt. Thị trường lúa gạo toàn cầu sẽ tiếp tục sôi động.

Trong khi đó, ông Nguyễn Ngọc Nam phân tích, nhìn từ thực tế năm 2024, Ấn Độ dù hạn chế xuất khẩu, đến tháng 9/2024 mới chính thức mở kho gạo trắng, gạo tấm nhưng cả năm 2024 sản lượng xuất khẩu gạo nước này vẫn đạt trên 17 triệu tấn, gần gấp đôi Việt Nam.

Với việc phục hồi sản lượng sản xuất, dự kiến năm 2025 Ấn Độ có thể xuất khẩu từ 21-22 triệu tấn gạo các loại, tăng 5 triệu tấn so với năm 2024. Việc này sẽ ảnh hưởng nhất định đến thị phần xuất khẩu gạo của các quốc gia khác; trong đó có Việt Nam và Thái Lan.

Về thị trường xuất khẩu, bên cạnh một số nước có khả năng tăng nhập khẩu thì nhịp độ mua vào ở một số quốc gia khác được dự đoán sẽ chậm lại. Điển hình như Indonesia, sau khi liên tục mua vào trong năm 2024, trữ lượng gạo tồn kho của nước này đã cao nhất trong vòng 5 năm.

Nguồn cung dồi dào và nhu cầu nhập khẩu trong ngắn hạn chững lại khiến giá gạo xuất khẩu của các nước đều “lao dốc.”

Thực tế, giá gạo xuất khẩu đã giảm khá mạnh ngay trong tháng 12/2024. Đến cuối tháng 12 giá gạo xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam chỉ còn ở mức 481 USD/tấn, giảm tới 39 USD so với đầu tháng 12/2024.

Hiện giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã xuống thấp hơn gạo Thái Lan (499 USD/tấn) và ở mức thấp nhất trong 19 tháng qua. Tương tự, giá gạo 25% tấm và 100% tấm cũng giảm sâu, lần lượt đạt 454 USD/tấn và 383 USD/tấn.

Hoàng Hậu