Giá lúa gạo hôm nay 31/3 tại thị trường trong nước biến động trái chiều khi giá gạo các loại giảm 200 đồng/kg còn giá gạo tại Kiên Giang, Đồng Tháp có xu hướng nhích nhẹ 50 đồng/kg. Trong tuần qua, giá gạo xuất khẩu giảm mạnh từ 3 - 15 USD/tấn.
Ghi nhận tại các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy giá lúa hôm nay không có biến động. Tại các địa phương như Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp… bình quân giá lúa dao động quanh mốc 7.400 - 8.000 đồng/kg.
Tại Cần Thơ, nguồn lúa Đông Xuân đã cạn, nông dân bắt đầu xuống giống rộ cho vụ Hè Thu. Tại An Giang, giá lúa ít biến động, nhu cầu mua chậm lại.
Theo cập nhật của Sở NN&PTNT tỉnh An Giang, lúa Đài thơm 8 dao động quanh mốc 7.700 - 7.900 đồng/kg; lúa OM 18 ở mức 7.700 - 7.900 đồng/kg; IR 504 ở mức 7.400 - 7.500 đồng/kg; OM 5451 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; lúa OM 380 dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg; lúa Nàng Hoa 9 dao động quanh mốc 7.700 - 7.900 đồng/kg; nếp Long An duy trì quanh mốc 7.700 - 7.900 đồng/kg.
Trên thị trường gạo, nhu cầu mua của các kho đều, giá gạo có xu hướng giảm. Riêng tại Kiên Giang, Đồng Tháp giao dịch khá hơn, giá gạo có xu hướng nhích nhẹ 50 đồng/kg.
Theo đó, giá gạo hôm nay điều chỉnh giảm với tất cả các loại gạo. Tại các địa phương, như Tân Hiệp (Kiên Giang), Sa Đéc, nguồn gạo về nhiều, kho mua giá thấp hơn hôm qua.
Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 dao động quanh mốc 10.000 - 10.100 đồng/kg, giảm 200 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 duy trì ổn định ở mức 12.600 - 12.700 đồng/kg, giảm 200 đồng/kg.
Với mặt hàng phụ phẩm, giá tấm IR 504 ở mức 10.200 - 10.300 đồng/kg giảm 100 đồng/kg; cám khô duy trì ổn định quanh mức 4.700 - 4.800 đồng/kg, giảm 100 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo đi ngang. Theo đó, giá gạo thường dao động quanh mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen 26.000 đồng/kg; thơm thái hạt dài 19.000 - 20.000 đồng/kg; gạo Hương lài 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam hôm nay chững lại và đi ngang sau phiên điều chỉnh giảm. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam VFA, gạo tiêu chuẩn 5% tấm hiện ở mức 592 USD/tấn; gạo 25% tấm ở mức 558 USD/tấn; gạo 100% tấm duy trì ổn định ở mức 478 USD/tấn.
Tín hiệu tích cực cho gạo xuất khẩu Việt Nam
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp đà tăng do các yếu tố về nguồn cung khan hiếm trên thị trường lúa gạo toàn cầu.
Cụ thể, giá gạo 5% tấm hiện được chào giá ở mức 590 - 595 USD/tấn; gạo 25% tấm ở mức 568 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 481 USD/tấn. Trong đó, giá xuất khẩu của gạo 5% tấm đã tăng thêm 5 - 10 USD so với mức 585 USD/tấn một tuần trước đó.
Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ tiếp tục giảm do nhu cầu từ châu Phi thấp. Cụ thể, gạo 5% tấm của Ấn Độ hiện được xuất khẩu với giá 543 - 550 USD/tấn trong tuần qua, giảm so với mức từ 548 - 555 USD/tấn của tuần trước đó.
Mặt khác, giá gạo 5% tấm của Thái Lan tuần này đã giảm xuống còn 598 USD/tấn, so với mức 615 USD/tấn của tuần trước. Các chuyên gia giao dịch cho rằng giá gạo Thái giảm là do đồng baht xuống giá, trong khi giá gạo trong nước duy trì ổn định.
Tính đến ngày 15/3/2024, gạo tiếp tục là một trong những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu ngành nông nghiệp với gần 1,6 triệu tấn được xuất khẩu, mang về doanh thu 1,06 tỷ USD. So với cùng kỳ năm trước, mặc dù sản lượng xuất khẩu giảm nhưng doanh thu từ xuất khẩu lại tăng mạnh, cho thấy tình hình xuất khẩu gạo vẫn có nhiều triển vọng tích cực.
Từ tháng 7 năm trước, xuất khẩu gạo của Việt Nam đã nhận được nhiều cơ hội khi Ấn Độ, một trong những quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất, đã áp đặt các biện pháp hạn chế xuất khẩu gạo của họ.
Nhờ vào điều này, trong cả năm vừa qua, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 8 triệu tấn gạo, thu về doanh thu gần 4,7 tỷ USD. Với tỷ lệ chiếm khoảng 15% tổng lượng gạo xuất khẩu thế giới, Việt Nam tiếp tục duy trì vị thế là một trong 3 quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, cùng với Ấn Độ và Thái Lan.
Hoàng Hậu (t/h)