Giá lúa gạo hôm nay (6/2) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu đi ngang so với ngày hôm qua. Tính đến cuối tháng 1, chỉ số gạo xuất khẩu bình quân gia quyền toàn cầu giảm 208 USD/tấn so với cùng kỳ năm ngoái.
Giá lúa gạo trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn lúa chào bán ít, giao dịch lúa mới chậm. Tại Đồng Tháp, giao dịch mới chậm, thương lái chủ yếu dò giá, lượng chốt mua ít. Tại Cần Thơ, nhu cầu hỏi mua ít, sức mua chưa nhiều.
Tại An Giang giao dịch lúa mới lai rai, thương lái chủ yếu dò giá. Tại Kiên Giang, nông dân chào bán nhiều, giao dịch mới chậm, giá lúa tương đối vững. Tại Sóc Trăng, nguồn lúa chào bán có khá, đa phần bạn hàng lấy lúa cọc trước Tết.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang, hiện giá lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.500 - 5.700 đồng/kg; lúa OM 5451 dao động ở mốc 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.600 – 6.800 đồng/kg; lúa OM 380 ở mức 6.600 - 6.700 đồng/kg; lúa OM 18 (tươi) dao động ở mốc 7.600 - 7.800 đồng/kg; lúa Nhật ở mốc 7.800 - 8.000 đồng/kg; Nàng Hoa 9 ở mức 9.200 đồng/kg.
Thị trường nếp ổn định. Hiện, giá nếp Long An (tươi) duy trì ở mức 7.800 - 8.000 đồng/kg; nếp Long An 3 tháng khô vẫn duy trì mức giá từ 9.800 - 10.000 đồng/kg.
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, lượng về rải rác, giao dịch mua bán chậm. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng gạo về lai rai, giao dịch ít; gạo các loại tương đối ổn định, kho mua đều.
Kênh chợ Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng về không nhiều, chỉ một vài kho mở cửa khai xuân, gạo vững giá. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), giao dịch gạo chợ chậm, giá ít biến động.
Với mặt hàng gạo, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang, hiện gạo nguyên liệu OM 504 giảm 100 đồng/kg, xuống còn 8.800 - 8.900 đồng/kg. Các loại gạo khác như gạo nguyên liệu IR 504 dao động ở mức 7.700 - 7.800 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 380 dao động ở mức 7.400 - 7.500 đồng/kg; gạo thành phẩm OM 380 dao động ở 8.800 - 9.000 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, gạo bình giá so với hôm qua. Hiện gạo thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 18.000 - 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 17.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 21.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mức 18.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 21.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.Với mặt hàng phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 5.500 - 7.200 đồng/kg. Hiện, giá tấm dao động ở mức 7.100 - 7.200 đồng/kg; giá cám khô dao động ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg.
 |
Bộ Công Thương cho biết, Dự thảo Thông tư quy định về kinh doanh xuất khẩu gạo được Bộ Công Thương xây dựng sau khi Nghị định mới về kinh doanh xuất khẩu gạo ban hành đầu năm 2025.
|
Giá gạo xuất khẩu
Chỉ số gạo trắng Oryza (WRI) xuất khẩu bình quân gia quyền toàn cầu trong tuần cuối cùng của tháng 1 đạt 486 USD/tấn, giảm 46 USD/tấn so với tháng trước và giảm 208 USD/tấn so với cùng kỳ năm ngoái.
Còn theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo của các nước xuất khẩu hàng đầu vẫn duy trì ổn định trong ngày 5/2. Trong đó, gạo 5% tấm của Việt Nam đứng ở mức thấp nhất là 405 USD/tấn. Tiếp đến là sản phẩm cùng loại của Pakistan đạt 414 USD/tấn, Ấn Độ với 416 USD/tấn. Riêng Thái Lan đứng ở mức cao nhất là 438 USD/tấn.
Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái hiện giá gạo 5% tấm của Thái Lan đã giảm 227 USD/tấn, Việt Nam giảm 225 USD/tấn và gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ giảm 139 USD/tấn. Việc Ấn Độ dỡ bỏ các hạn chế xuất khẩu gạo từ cuối tháng 9 năm ngoái được cho là nguyên nhân chính dẫn đến sự lao dốc trên thị trường lúa gạo toàn cầu.
Báo cáo của VFA cho biết, từ ngày 01/01 – 31/01/2025 có 29 tàu vào cảng Hồ Chí Minh xếp hàng với số lượng dự kiến 254.250 tấn gạo các loại.
Tính đến ngày 31/01/2025, theo số liệu của Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp & PTNT, các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL, vụ Thu Đông 2024 đã xuống giống được 711 nghìn ha/700 nghìn ha diện tích kế hoạch, thu hoạch được 711 nghìn ha với năng suất khoảng 58,45 tạ/ha, sản lượng ước đạt 4,157 triệu tấn lúa.
Vụ Đông Xuân 2024-2025 đã xuống giống được 1.490 nghìn ha đạt 100% diện tích kế hoạch, đã bắt đầu thu hoạch khoảng 167 nghìn ha với năng suất 61 tạ/ha, sản lượng ước 1,018 triệu tấn lúa.
Vụ Hè Xuân 2025 đã bắ đầu xuống giống được 28 nghìn ha/1,482 triệu ha diện tích kế hoạch.
Trong khi đó, theo Bộ Nông nghiệp và Phúc lợi Nông dân Ấn Độ, tính đến ngày 27/1, nông dân Ấn Độ đã trồng lúa vụ Rabi trên 3,515 triệu ha, tăng 15,7% so với 3,038 triệu ha của năm ngoái, các vụ Rabi thường được gieo vào tháng 10 - 11 và thu hoạch vào tháng 3 - 4.
Còn tại Thái Lan, xuất khẩu gạo của nước này đạt 9,95 triệu tấn trong năm 2024, vượt mục tiêu 9 triệu tấn và tăng 13% so với cùng kỳ năm trước, với giá trị kim ngạch thu về tăng 27% lên 225,66 tỷ baht (6,43 tỷ USD), do nhu cầu toàn cầu về an ninh lương thực và kiểm soát lạm phát .
Tuy nhiên, Hiệp hội Các Nhà Xuất khẩu Gạo Thái Lan (TREA) dự đoán xuất khẩu sẽ giảm đáng kể xuống còn 7,5 triệu tấn vào năm 2025, do sự cạnh tranh gia tăng từ Ấn Độ và nhu cầu giảm từ Indonesia.
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cũng đã hạ nhẹ dự báo sản lượng gạo xay xát của Thái Lan trong năm tài khóa 2024-2025 (tháng 1 - tháng 12/2025) xuống còn 20,02 triệu tấn so với dự báo chính thức của USDA là 20,1 triệu tấn.
Tuy nhiên, dự báo này tăng so với mức ước tính là 19,696 triệu tấn trong năm tài khóa 2023-2024 do tăng diện tích và năng suất trung bình cải thiện nhờ nguồn cung cấp nước tăng.
Xuất khẩu gạo của Thái Lan trong năm tài khóa 2024-2025 dự báo vào khoảng 7,5 triệu tấn, giảm so với mức ước tính là 9,2 triệu tấn trong năm tài khóa trước do sự cạnh tranh mạnh mẽ, đặc biệt là từ Ấn Độ sau khi nước này dỡ bỏ các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đối với gạo trắng và gạo đồ.
Hoàng Hậu (t/h)