Giá lúa gạo hôm nay biến động nhẹ tại thị trường trong nước, khi lúa Đài Thơm 8 và OM 18 quay đầu giảm 200 đồng/kg. Còn trên thị trường xuất khẩu, giá gạo 5% tấm tiếp tục giảm xuống dưới 390 USD/tấn, thấp nhất kể từ đầu tháng 9/2021.
Giá lúa gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, lượng gạo khá hơn, giá tương đối bình ổn. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng khá, gạo nguyên liệu các loại bình giá. Riêng kênh chợ, lượng về khá hơn, giá ổn định, kho chợ mua đều.
Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), lượng có lai rai, ít người mua, đa số lựa hàng VIP mua, giá ổn định. Còn tại Lấp Vò (Đồng Tháp), lượng về khá hơn, kho mua đều gạo ngang, giao dịch mua bán có đều, giá gạo ít biến động.
Với mặt hàng gạo, ghi nhận tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo hôm nay duy trì đà đi ngang. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 380 dao động trong khoảng 7.800 - 8.000 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 18 ở mức 9.300 - 9.500 đồng/kg;...
Tại các chợ lẻ, giá gạo không ghi nhận điều chỉnh mới. Cụ thể, gạo thơm dao động từ 18.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mức 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine ở mức 18.000 - 20.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Sóc thường ở mức 18.500 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 21.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 17.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 21.000 đồng/kg.
Thị trường nếp hôm nay không biến động. Hiện, giá nếp IR 4625 dao động trong khoảng 7.900 – 8.000 đồng/kg; nếp 3 tháng khô duy trì ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 (tươi) hiện ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg.
Với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang, giá một số loại lúa quay đầu giảm trở lại sau phiên điều chỉnh tăng. Cụ thể, các thương lái điều chỉnh giảm 200 đồng/kg đối với giá thu mua lúa Đài Thơm 8 và OM 18, về mức 6.300 - 6.400 đồng/kg. Trong khi đó, giá các loại lúa khác vẫn ổn định. Hiện lúa OM 5451 được giao dịch ở mức 5.700 – 5.900 đồng/kg; lúa IR 50404 trong khoảng 5.400 – 5.600 đồng/kg; lúa Nàng Nhen (khô) giao dịch ở mức 20.000 đồng/kg; lúa Nàng Hoa 9 có giá 9.200 đồng/kg; lúa Nhật hiện ở mức từ 7.800 - 8.000 đồng/kg.
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, giá lúa đang giảm nhẹ trở lại, lượng về tiếp tục tăng nhưng giao dịch vẫn đang chậm.
Tại Hậu Giang, nông dân chào bán lượng khá, giao dịch mua bán đều, giá lúa vững. Trong khi đó, nhu cầu hỏi mua các loại ở Kiên Giang khá, giao dịch nhiều IR50404 và lúa thơm, giá có xu hướng giảm nhẹ.
Tại Đồng Tháp, giao dịch lúa khá hơn, giá lúa các loại biến động nhẹ, giá lúa đẹp nhích nhẹ. Còn tại Cần Thơ, diện tích lúa đa phần đã được cọc, chờ cắt, nhu câu hỏi mua mới chậm.
Với mặt hàng phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm ổn định, dao động trong khoảng từ 5.550 - 7.300 đồng/kg. Hiện, giá cám khô dao động 5.550 - 5.700 đồng/kg; giá tấm ở mức 7.100 - 7.300 đồng/kg; tấm 3 - 4 hiện ở mức 6.400 - 6.500 đồng/kg.
Giá gạo xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo 5% tấm của Việt Nam tiếp tục giảm 1 USD/tấn, xuống chỉ còn 389 USD/tấn - mức thấp nhất kể từ tháng 9/2021. Bên cạnh đó, giá gạo 25% tấm giảm 1 USD/tấn, xuống còn 364 USD/tấn; loại 100% tấm giảm 5 USD/tấn về mức 307 USD/tấn.
Tương tự, gạo 5% tấm của Thái Lan được báo giá ở mức 412 USD/tấn, giảm 3 USD/tấn so với ngày hôm trước. Tuy nhiên, đây vẫn là mức giá cao nhất ghi nhận được trên thị trường.
Trong khi sản phẩm cùng loại của Pakistan cũng giảm 2 USD/tấn, xuống còn 378 USD/tấn. Riêng tại Ấn Độ, gạo 5% tấm vẫn giữ ổn định ở mức 405 USD/tấn.
Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, khối lượng xuất khẩu gạo tháng 2 ước đạt 560.000 tấn, thu về 288,2 triệu USD.
Lũy kế đến hết tháng 2, nước ta xuất khẩu 1,1 triệu tấn gạo, giá trị đạt 613 triệu USD. So với cùng kỳ năm ngoái, lượng gạo xuất khẩu tăng 5,9% nhưng giá trị lại giảm mạnh 13,6%. Lý do, giá xuất khẩu bình quân hai tháng đầu năm nay chỉ đạt 553,6 USD/tấn, giảm 18,3% so với cùng kỳ năm 2024.
Tại cuộc họp về tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ĐBSCL ngày 4/3, ông Ngô Hồng Phong - Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) - cho biết Ấn Độ nối lại hoạt động xuất khẩu, đẩy bán lượng hàng lớn ra thị trường, gây áp lực lên giá gạo.
Chưa kể, sản lượng gạo của Việt Nam, Thái Lan, Pakistan tăng khiến nguồn cung toàn cầu dư thừa kéo giá gạo xuất khẩu giảm sâu.
Trước những khó khăn của ngành lúa gạo, ông Đỗ Hà Nam - Phó Chủ tịch VFA - kiến nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp tiếp cận và được vay vốn với lãi suất thấp. Từ đó, có khả năng trữ hàng, chủ động hơn về giá hàng hóa, tránh tình trạng bán hàng ồ ạt.
Bên cạnh đó, lãnh đạo VFA còn đề nghị Bộ Công Thương đưa ra quy định giá sàn về xuất khẩu gạo theo Nghị định 107/2018/NĐ-CP. Theo VFA, có thể xem xét mức giá sàn xuất khẩu là 500 USD/tấn (giá FOB).
Liên quan đến câu chuyện kích hoạt giá sàn, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết bộ này đang nghiên cứu; cùng với đó là việc kích hoạt dự trữ, đảm bảo công tác bình ổn.
Đây cũng là một trong những giải pháp đóng góp vào công tác bình ổn giá lúa gạo. Đồng thời, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác đàm phán mở cửa thị trường mới bên cạnh thị trường truyền thống để đảm bảo xuất khẩu gạo bền vững trong dài hạn, Thứ trưởng Tân nhấn mạnh.
Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Đỗ Đức Duy nhìn nhận, việc giá gạo trên thị trường thế giới giảm sâu đã tác động đến thị trường trong nước, đặc biệt là khi chúng ta đang vào thời điểm chính vụ Đông Xuân với sản lượng lớn của khu vực ĐBSCL.
Theo Bộ trưởng, chúng ta phải xác định lại mức độ như thế nào, nguyên nhân do đâu, từ đó đề xuất các giải pháp để quản lý để đưa thị trường lúa gạo ổn định trở lại, phát triển bền vững.
Hoàng Hậu (t/h)