Ghi nhận giá lúa gạo hôm nay 11/2, tại thị trường trong nước ít biến động với giá gạo tương đối ổn định, một số mặt hàng lúa nhích nhẹ. Giá gạo xuất khẩu đi ngang so với ngày hôm qua. Trên thị trường châu Á, giá gạo 5% tấm của Việt Nam vẫn đứng ở mức thấp nhất trong khu vực.
Giá gạo trong nước
Theo ghi nhận, một số mặt hàng lúa tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhích nhẹ so với hôm qua và giá gạo tương đối bình ổn.
Với mặt hàng lúa tươi, ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, lượng ít, giao dịch mua bán cầm chừng lúa. Tại Hậu Giang, giao dịch lúa Đông Xuân lai rai, giá vững. Tại Đồng Tháp, nông dân chào bán nhiều lúa Đông Xuân, giá neo vững, giao dịch cầm chừng. Tại Kiên Giang, nhiều thương lái thăm dò hỏi lúa gần ngày, giá ít biến động. Tại An Giang, giá lúa nông dân chào vững các loại, giao dịch mua bán có lai rai. Tại Cần Thơ, giao dịch lúa Đông Xuân có lai rai, giá ít biến động so với hôm qua.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang ngày 11/2, hiện giá lúa OM 5451 tăng 100 đồng dao động ở mốc 5.800 - 6.100; Lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.400 - 5.600 đồng/kg; Lúa Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.600 – 6.800; Lúa OM 380 ở mức 6.600 - 6.700 đồng/kg; Lúa OM 18 dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; Lúa Nhật ở mốc 7.800 - 8.000 đồng/kg; Nàng Hoa 9 ở mức 9.200 đồng/kg.
Với mặt hàng gạo, hiện gạo nguyên liệu 545 dao động ở mức 8.850 - 9.050; gạo nguyên liệu OM 380 dao động ở mức 7.400 - 7.600 đồng/kg so với hôm qua; gạo thành phẩm OM 380 dao động ở 8.800 - 9.000 đồng/kg; gạo nguyên liệu IR 504 dao động ở mức 7.700 - 7.800 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg;
Tại các địa phương hôm nay, lượng về có lai rai, giao dịch mua bán khởi sắc hơn. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), lượng về ít, giá bình các loại, gạo thơm vẫn ít lượng, kho mua đều. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng có lai rai, giá gạo xô một số loại giảm nhẹ. Kênh chợ Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng không nhiều, gạo các loại kho mua vững giá. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, giá ổn định.
Tại các chợ lẻ, gạo các loại bình ổn với hôm qua. Hiện gạo thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 17.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 21.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 18.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 21.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 5.200 - 7.300 đồng/kg. Hiện, giá tấm dao động ở mức 7.100 - 7.300 đồng/kg; tấm 3-4 giao động mức 5.600 - 5.800; giá cám khô tăng 50 đồng dao động ở mức 5.200 - 5.350 đồng/kg so với cuối tuần.
Giá gạo xuất khẩu
Cập nhật mới nhất từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), tính đến ngày 10/2, giá gạo 5% tấm xuất khẩu của Việt Nam đứng ở mức 399 USD/tấn, thấp nhất kể từ tháng 9/2022.
Đây cũng là mức giá rẻ nhất trên thị trường châu Á khi thấp hơn hàng cùng loại của Thái Lan tới 32 USD/tấn, thấp hơn hàng Ấn Độ 14 USD/tấn và Pakistan 5 USD/tấn.
Theo Báo VietNamNet, điều này rất hiếm khi xảy ra, bởi trên thị trường thế giới, gạo Việt có cùng phân khúc và chất lượng với gạo Thái Lan. Mặt hàng này của nước ta chủ yếu cạnh tranh với hàng Thái, còn giá luôn cao hơn hàng Ấn Độ và Pakistan.
Đáng chú ý, với mức 399 USD/tấn, giá gạo Việt thấp hơn cả mốc 533 USD/tấn ghi nhận vào ngày 19/7/2023 (thời điểm trước khi Ấn Độ ban hành lệnh cấm xuất khẩu gạo).
Còn so với giá đỉnh 663 USD/tấn hồi cuối tháng 11/2023, giá gạo 5% tấm xuất khẩu đã giảm 264 USD/tấn, tương đương mức giảm 39,8%.
Lý giải về nguyên nhân giá gạo Việt xuất khẩu lao dốc, lãnh đạo một doanh nghiệp cho biết do áp lực nguồn cung tăng khi Ấn Độ mở cửa xuất khẩu trở lại. Do đó, trên thị trường thế giới không còn tình trạng các nhà nhập khẩu phải tranh mua như thời điểm nửa cuối năm 2023 và nửa đầu 2024.
Bên cạnh đó, các khách hàng truyền thống của gạo Việt đều có kế hoạch giảm nhập khẩu trong năm nay. Điều này cũng tác động mạnh đến giá gạo của nước ta.
Ông Đỗ Hà Nam - Phó Chủ tịch VFA - cho rằng, tình trạng khó khăn chỉ là tạm thời khi các nhà nhập khẩu muốn tiếp tục chờ đợi để có giá tốt hơn. Bởi, gạo Việt đã tạo được sự khác biệt và có phân khúc thị trường riêng.
Nước ta sắp bước vào vụ thu hoạch đông xuân - vụ lúa có sản lượng lớn nhất năm. Thời tiết dịp vừa qua lại tương đối thuận lợi nên sản lượng dự báo sẽ dồi dào. Do đó, một số nhà nhập khẩu gạo muốn chờ để được mua gạo với giá rẻ hơn, ông Nam lý giải.
Theo nhiều nhận định, nhu cầu nhập khẩu gạo từ các quốc gia vẫn rất lớn. Tuy nhiên, Hiệp hội Lương thực Việt Nam dự báo xuất khẩu gạo năm 2025 sẽ tương đối khó khăn. Sản lượng gạo xuất khẩu của nước ta có thể chỉ đạt 7,5 triệu tấn, giảm so với mức kỷ lục hơn 9 triệu tấn của năm 2024.
Hoàng Hậu (t/h)