Giá cà phê hôm nay 7/9 tại Tây Nguyên giảm 300–400 đồng/kg so với cuối tuần trước, xuống 94.200–95.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá hồ tiêu tiếp tục đi ngang ở 135.000–137.000 đồng/kg, còn thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động.
Giá cà phê giảm tuần thứ hai liên tiếp
Giá cà phê hôm nay 7/9 tại các tỉnh Tây Nguyên dao động 94.200–95.000 đồng/kg, giảm 300–400 đồng/kg so với cuối tuần trước. Đây là tuần giảm thứ hai liên tiếp của thị trường cà phê trong nước, trong bối cảnh giá Robusta và Arabica trên các sàn quốc tế đồng loạt đi xuống.
Tại Lâm Đồng, giá cà phê giảm 400 đồng/kg trong tuần qua, xuống 94.200 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát. Đắk Lắk và Gia Lai cùng giảm 400 đồng/kg, hiện ở mức 94.700 đồng/kg.
Đắk Nông giảm 300 đồng/kg, xuống 95.000 đồng/kg và tiếp tục là địa phương có giá thu mua cao nhất khu vực Tây Nguyên.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê giảm mạnh hơn. Tại sàn London, Robusta giao tháng 9/2026 kết thúc tuần ở mức 3.344 USD/tấn, giảm 4,2%, tương đương 148 USD/tấn so với tuần trước. Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 2,8%, tương đương 99 USD/tấn, xuống 3.430 USD/tấn.
Tại New York, Arabica giao tháng 9/2026 giảm 6,2%, tương đương 21,6 US cent/pound, xuống 324,25 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 5,5%, tương đương 17,3 US cent/pound, chốt tuần ở 295,6 US cent/pound.
Theo Reuters, hoạt động mua bán Robusta tại Việt Nam trong tuần qua tương đối trầm lắng do nguồn cung thấp và nhu cầu yếu sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh. Tại Tây Nguyên, nông dân bán cà phê nhân với giá khoảng 94.200–95.000 đồng/kg, thấp hơn mức 94.600–95.300 đồng/kg của tuần trước.
Một thương nhân tại vùng trồng cho biết hoạt động giao dịch chưa thực sự sôi động trở lại sau kỳ nghỉ lễ. Đối với nguồn hàng giao vào tháng 12, giá được một thương nhân đưa ra ở khoảng 89.500 đồng/kg.
USDA dự báo sản lượng cà phê Việt Nam trong niên vụ hiện tại có thể tương đương niên vụ trước. Tuy nhiên, một số nông dân phản ánh tình trạng quả cà phê non rụng khỏi cây, làm dấy lên lo ngại về năng suất thực tế.
Ở chiều xuất khẩu, trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,33 triệu tấn cà phê, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước, nhưng kim ngạch giảm 8,6%, xuống khoảng 6 tỷ USD. Riêng tháng 8, lượng cà phê xuất khẩu đạt khoảng 132.000 tấn, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Trái với Việt Nam, Robusta Indonesia ghi nhận mức cộng giá cao hơn. Tại Sumatra, Robusta được chào bán với mức cộng khoảng 300 USD/tấn so với hợp đồng kỳ hạn tháng 11, tăng từ 260 USD/tấn của tuần trước.
Một thương nhân khác cho biết cà phê được chào ở mức cộng khoảng 200 USD/tấn so với hợp đồng tháng 10, trong khi tuần trước mức cộng chỉ khoảng 175 USD/tấn đối với kỳ hạn tháng 9.
Tuy nhiên, một số vùng trồng tại Indonesia cũng xuất hiện yếu tố cần theo dõi khi nông dân tại Lampung cho biết một số quả cà phê đang phát triển có tình trạng cháy sém.
Nguồn cung Brazil đang trở thành tâm điểm của thị trường. Thị trường ngày càng phản ánh rõ lượng cà phê niên vụ 2026–2027 khi vụ thu hoạch tại quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới gần hoàn tất.
Ông Haroldo Bonfá, Giám đốc Pharos Consultoria, cho rằng áp lực lên giá xuất hiện muộn hơn dự kiến do cà phê Brazil cần thêm thời gian để được đưa tới cảng và vận chuyển ra thị trường.
Khi vụ thu hoạch gần hoàn tất, lượng cà phê tập trung lớn bắt đầu gây sức ép lên hệ thống kho chứa. Một số kho tại Brazil đã phải hạn chế hoặc tạm ngừng tiếp nhận các lô hàng mới do thiếu chỗ chứa.
Dù vậy, tồn kho Arabica được chứng nhận trên ICE đã giảm xuống vùng thấp nhất trong khoảng 27 năm, cho thấy nguồn hàng đáp ứng yêu cầu giao nhận trên sàn vẫn khá hạn chế.
USDA dự báo sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2026–2027 đạt khoảng 189,7 triệu bao, tăng 6% so với niên vụ trước. Brazil được kỳ vọng đóng góp đáng kể vào mức tăng này với một vụ mùa có thể đạt quy mô kỷ lục.
StoneX dự báo sản lượng cà phê Brazil niên vụ 2026–2027 có thể lên tới 77,2 triệu bao, tăng 23,9% so với mức 62,3 triệu bao của niên vụ trước và vượt kỷ lục cũ được thiết lập trong niên vụ 2020–2021.
Giá tiêu tiếp tục đi ngang
Giá tiêu hôm nay 7/9 tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục dao động 135.000–137.000 đồng/kg.
Đắk Nông (Lâm Đồng) giữ mức cao nhất, đạt 137.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng kế tiếp với 136.500 đồng/kg. Tại Đồng Nai, Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu cùng duy trì ở 135.000 đồng/kg.
Như vậy, giá tiêu trong nước gần như đi ngang trong suốt tuần qua, với chênh lệch giữa mức cao nhất và thấp nhất là 2.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu có sự phân hóa. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia tăng 0,46%, tương đương 32 USD/tấn, lên 6.929 USD/tấn trong tuần qua. Ngược lại, tiêu đen ASTA 570 của Brazil giảm 0,86%, tương đương 50 USD/tấn, xuống 5.750 USD/tấn. Tiêu đen Malaysia giữ nguyên ở 9.300 USD/tấn.
Tiêu đen xuất khẩu Việt Nam ổn định ở 5.990–6.050 USD/tấn đối với các chủng loại có dung trọng 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 0,47%, tương đương 44 USD/tấn, lên 9.487 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt giữ ở 8.400 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
Theo Nedspice, nguồn cung hồ tiêu thế giới năm 2026 nhìn chung vẫn ổn định. Sản lượng tăng tại Brazil đang góp phần bù đắp sự sụt giảm tại Việt Nam và Indonesia.
Tại Việt Nam, vụ thu hoạch hồ tiêu năm 2026 đã kết thúc với sản lượng ước khoảng 155.000 tấn. Dù sản lượng trong nước giảm, xuất khẩu vẫn tăng nhờ nguồn cung được bổ sung từ nhập khẩu, đặc biệt từ Campuchia và Brazil.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 168.000 tấn hồ tiêu, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Mỹ, Trung Quốc và UAE tiếp tục là những thị trường quan trọng, với lượng xuất khẩu sang Mỹ tăng 28%, Trung Quốc tăng 55% và UAE tăng 9%.
Trong khi đó, sản lượng hồ tiêu Indonesia năm 2026 được ước tính khoảng 32.000 tấn. Trong 6 tháng đầu năm, nước này xuất khẩu khoảng 10.000 tấn, giảm 42% so với cùng kỳ năm trước. Vụ thu hoạch dự kiến kết thúc vào tháng 9.
Brazil tiếp tục là điểm sáng về nguồn cung, với sản lượng hồ tiêu năm 2026 được ước tính khoảng 118.000 tấn. Trong 7 tháng đầu năm, nước này xuất khẩu khoảng 57.000 tấn, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong những tháng tới, thị trường bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến tác động của El Niño đối với vụ hồ tiêu năm 2027. Theo Nedspice, El Niño có thể tác động rõ hơn tới các vùng trồng phục vụ vụ thu hoạch 2027 từ tháng 12 trở đi.
Tại Việt Nam, lượng mưa phân bố không đồng đều kết hợp với nền nhiệt cao gây hiện tượng rụng bông tại một số vùng. Quá trình ra hoa của vụ mới cũng diễn ra không đồng đều, ảnh hưởng đến giai đoạn đậu quả sớm.
Tại Lampung, một trong những vùng sản xuất hồ tiêu quan trọng của Indonesia, lượng mưa trong tháng 6 và tháng 7 thấp hơn tới 69% so với mức trung bình giai đoạn 2021–2025.
Theo đánh giá hiện tại, Indonesia và khu vực phía Bắc Brazil là hai vùng sản xuất có mức độ rủi ro El Niño cao hơn. Thời tiết nóng và khô có thể xuất hiện tại những khu vực không có hệ thống tưới tiêu, tạo thêm áp lực lên cây hồ tiêu.
Giá lúa gạo ít biến động
Giá lúa gạo hôm nay 7/9 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động, giao dịch mua bán vắng. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam cũng đi ngang.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 và CL 555 cùng dao động 8.700–8.800 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 5451 ở mức 9.300–9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700–8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200–9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500–7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá dao động khoảng 7.450–8.750 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm ở mức 8.650–8.750 đồng/kg, cám 7.450–7.550 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo ổn định so với cuối tuần. Gạo Nàng Nhen có giá cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000–22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; Jasmine 17.000–18.000 đồng/kg; Đài thơm 15.500–16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; gạo thường 13.500–15.000 đồng/kg.
Gạo Sóc thường ở mức 15.000–16.000 đồng/kg; Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg và OM 18 khoảng 15.500–16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp duy trì ổn định. Nếp 3 tháng khô ở mức 9.600–9.700 đồng/kg, trong khi nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300–7.500 đồng/kg.
Đối với lúa tươi, OM 34 ở mức 5.800–5.900 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 cùng ở mức 6.500–6.700 đồng/kg; OM 5451 ở mức 6.400–6.500 đồng/kg; IR 50404 ở mức 6.200–6.400 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, gạo thơm 5% tấm của Việt Nam dao động 470–480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm 373–377 USD/tấn; gạo Jasmine 534–538 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo 5% tấm ở mức 453–457 USD/tấn, gạo 100% tấm 366–370 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm ở mức 364–368 USD/tấn, còn gạo 100% tấm 304–308 USD/tấn.
Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 8/2026 đạt 459,5 nghìn tấn, trị giá 240,6 triệu USD. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6 triệu tấn gạo, trị giá 2,86 tỷ USD, giảm 6,3% về khối lượng và 11,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ lực. Philippines là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam với thị phần 43,2%. Trung Quốc và Ghana đứng tiếp theo với thị phần lần lượt 18,4% và 11%.
Trung Anh