Thị trường nông sản ngày 8/6 ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các mặt hàng chủ lực. Trong khi giá cà phê và hồ tiêu tiếp tục chịu áp lực giảm do nguồn cung toàn cầu gia tăng, giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long duy trì ổn định. Đáng chú ý, xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn tăng trưởng tích cực nhờ nhu cầu lớn từ thị trường Philippines.
Giá cà phê trong nước đi ngang, thị trường thế giới lao dốc
Tại khu vực Tây Nguyên, giá cà phê trong nước cuối tuần qua không thay đổi so với phiên trước, dao động từ 84.500 - 85.400 đồng/kg. Mức giá trung bình toàn vùng hiện đạt khoảng 85.300 đồng/kg.
Cụ thể, tại Đắk Nông, cà phê được thu mua ở mức cao nhất 85.400 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng ở mức 85.200 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng tiếp tục là địa phương có giá thấp nhất với 84.500 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê tiếp tục chịu áp lực giảm mạnh trong tuần qua. Trên sàn London, hợp đồng robusta giao tháng 7/2026 giảm 160 USD/tấn, tương đương 4,6%, xuống còn 3.316 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 114 USD/tấn, tương đương 3,4%, còn 3.233 USD/tấn.
Tương tự, trên sàn New York, giá arabica giao tháng 7/2026 giảm mạnh 19,1 US cent/pound, tương đương 7,2%, xuống còn 246,5 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 16,6 US cent/pound, tương đương 6,4%, còn 242,1 US cent/pound.
Nguyên nhân chính khiến giá cà phê giảm là do tiến độ thu hoạch niên vụ 2026-2027 tại Brazil đang được đẩy nhanh. Theo Safras & Mercado, đến ngày 2/6, Brazil đã thu hoạch được 23% diện tích cà phê, tăng thêm 7 điểm phần trăm chỉ trong một tuần. Đối với cà phê arabica, tỷ lệ thu hoạch đạt 17%, trong khi cà phê robusta (conilon) đạt 34%.
Dù vậy, các chuyên gia cho biết chất lượng robusta tại Brazil đang xuất hiện một số vấn đề như tỷ lệ hạt lỗi cao hơn và sâu đục quả gia tăng. Đây có thể là yếu tố hỗ trợ giá trong trung hạn nếu sản lượng thực tế thấp hơn kỳ vọng.
Giá hồ tiêu giảm tuần thứ ba liên tiếp, nhập khẩu tăng mạnh
Thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục xu hướng giảm trong tuần đầu tháng 6. Giá thu mua hiện dao động từ 137.000 - 140.000 đồng/kg, giảm từ 1.000 - 2.000 đồng/kg so với cuối tuần trước.
Đắk Lắk và Đắk Nông vẫn là hai địa phương có giá cao nhất cả nước ở mức 140.000 đồng/kg. Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, giá tiêu đạt 138.000 đồng/kg, trong khi Đồng Nai và Gia Lai cùng được thu mua ở mức 137.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu cũng ghi nhận xu hướng đi xuống. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Lampung của Indonesia giảm xuống còn 7.091 USD/tấn, thấp hơn khoảng 61 USD/tấn so với tuần trước. Giá tiêu đen Brazil ASTA 570 giảm còn 6.025 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia duy trì ở mức 9.350 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l vẫn ổn định trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn. Giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam được giữ ở mức 9.000 USD/tấn.
Một điểm đáng chú ý là lượng hồ tiêu nhập khẩu vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh. Trong tháng 5/2026, Việt Nam nhập khẩu khoảng 8.745 tấn hồ tiêu, trị giá gần 50 triệu USD, tăng hơn 7% so với tháng trước và tăng trên 22% so với cùng kỳ năm ngoái.
Lũy kế 5 tháng đầu năm, lượng hồ tiêu nhập khẩu đạt 38.086 tấn, tương ứng kim ngạch 217,8 triệu USD, tăng tới 69% về lượng và gần 60% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Campuchia là nguồn cung lớn nhất với hơn 20.700 tấn, chiếm gần 55% tổng lượng nhập khẩu.
Theo các chuyên gia, việc nhập khẩu tăng mạnh chủ yếu nhằm phục vụ hoạt động chế biến sâu và tái xuất, không phản ánh tình trạng thiếu hụt nguồn cung trong nước.
Giá lúa gạo ổn định, xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo hôm nay nhìn chung ổn định. Giao dịch trên thị trường diễn ra khá chậm do nguồn cung vụ Hè Thu mới ra thị trường chưa nhiều.
Đối với lúa tươi, OM 18 và Đài Thơm 8 đang được thu mua ở mức 6.400 - 6.500 đồng/kg. Lúa OM 5451 dao động từ 5.700 - 5.800 đồng/kg, trong khi lúa IR 50404 ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg. Lúa OM 34 có giá thấp nhất, từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
Ở mặt hàng gạo nguyên liệu, gạo IR 504 dao động 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo CL 555 ở mức 9.100 - 9.200 đồng/kg; gạo OM 5451 đạt 9.500 - 9.600 đồng/kg. Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động từ 9.200 - 9.400 đồng/kg, trong khi OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 hiện được giao dịch trong khoảng 10.750 - 10.900 đồng/kg.
Tại các chợ bán lẻ, gạo Nàng Nhen tiếp tục có giá cao nhất, đạt 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg. Gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg, trong khi gạo Jasmine được bán từ 13.000 - 15.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam duy trì ổn định. Gạo Jasmine được chào bán ở mức 515 - 519 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm dao động từ 495 - 497 USD/tấn, còn gạo thơm 100% tấm ở mức 344 - 348 USD/tấn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong tháng 5/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,1 triệu tấn gạo với kim ngạch 512 triệu USD. Lũy kế 5 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo đạt 4,5 triệu tấn, tăng 6,6% về lượng nhưng giảm 3,6% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm tới 46,9% thị phần xuất khẩu với khoảng 2,1 triệu tấn, tương đương gần 1 tỷ USD. Trung Quốc đứng thứ hai với thị phần 17,8%.
Trung Anh