Giá thép kỳ hạn tiếp tục xu hướng tăng. Thép cuộn cán nóng Trung Quốc cũng đi lên nhờ biện pháp hạn chế sản xuất và hạ nhiệt căng thẳng thương mại Mỹ Trung, Ấn Độ – EU đẩy nhanh đàm phán FTA.
Giá thép thế giới
Kết thúc phiên giao dịch 29/10, giá thép thanh kỳ hạn tháng 11 trên Sàn Thượng Hải tăng 0,3% (9 nhân dân tệ) lên mức 3.043 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Đại Liên, giá quặng sắt tăng 0,7% (5,5 nhân dân tệ) lên mức 823,5 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Singapore, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 11 trên Sàn Singapore-SGX tăng 1,36 USD lên mức 107,7 USD/tấn.
Giá thép cuộn cán nóng (HRC) tại Trung Quốc đã dừng đà giảm và bắt đầu tăng trở lại trong thời gian gần đây, chủ yếu do các biện pháp hạn chế sản xuất tại các nhà máy thép ở tỉnh Hà Bắc và sự hạ nhiệt trong căng thẳng thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ, theo Yieh.
Tại thành phố Đường Sơn, trung tâm luyện thép lớn nhất Trung Quốc, một số nhà máy đã được yêu cầu chỉ vận hành lò cao ở mức 70% công suất nhằm giảm phát thải, biện pháp dự kiến kéo dài đến hết tháng 10. Việc cắt giảm sản lượng này khiến nguồn cung trên thị trường nội địa thắt chặt, góp phần đẩy giá HRC tăng lên.
Song song đó, quan hệ thương mại Trung – Mỹ ghi nhận tín hiệu tích cực khi Bắc Kinh đồng ý gia hạn kiểm soát xuất khẩu đất hiếm thêm một năm và nối lại việc mua đậu tương từ Mỹ. Đáp lại, Washington đã hủy kế hoạch áp thuế 100% dự kiến có hiệu lực vào tháng 11, giúp giảm bớt căng thẳng thương mại song phương.
Trong bối cảnh đó, nhiều nhà máy Trung Quốc đã nâng giá chào bán thép xuất khẩu. Đồng Nhân dân tệ tăng giá cũng làm chi phí xuất khẩu tăng thêm. Tác động lan tỏa khiến giá HRC tại các thị trường châu Á khác, đặc biệt là Việt Nam và Đài Loan, đồng loạt tăng. Tuy nhiên, giới mua hàng vẫn tỏ ra thận trọng trước triển vọng tăng giá bền vững.
Ở diễn biến khác, Ấn Độ và Liên minh châu Âu (EU) đang tăng tốc đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) nhằm hoàn tất vào cuối năm 2025, theo định hướng của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen.
Trong khuôn khổ chuyến thăm Brussels từ ngày 26–28/10, Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ Piyush Goyal đã hội đàm với Ủy viên Thương mại và An ninh Kinh tế EU Maros Sefcovic. Hai bên thống nhất cần tiếp tục trao đổi sâu hơn về các vấn đề nhạy cảm như thép, ô tô, thuế carbon và các quy định mới của EU.
Ông Goyal nhấn mạnh, Ấn Độ mong muốn đạt được một thỏa thuận cân bằng, công bằng và minh bạch, tạo khuôn khổ thương mại ổn định, có thể dự đoán. Phía EU đánh giá cao “mức độ tin cậy chính trị sâu sắc” giữa hai bên, đồng thời khẳng định cam kết tìm ra các giải pháp công bằng nhằm củng cố an ninh kinh tế và thương mại song phương.
EU hiện là đối tác thương mại hàng hóa lớn nhất của Ấn Độ, với kim ngạch song phương đạt 137,5 tỷ USD trong năm tài chính 2023/24, tăng gần 90% trong vòng một thập kỷ qua. Hai bên cũng đã thống nhất về các nhóm hàng công nghiệp ít nhạy cảm và tiếp tục tìm “vùng đáp ứng chung” cho các vấn đề còn tồn tại.
Để thúc đẩy tiến trình, nhóm kỹ thuật của Tổng vụ Thương mại EU dự kiến sẽ sang Ấn Độ trong tuần tới nhằm làm việc trực tiếp về các phương án được xác định trong các cuộc họp tại Brussels.
Giá thép trong nước
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Thương Trường, giá thép hôm nay (30/10) cập nhật từ SteelOnline.vn cho thấy thị trường đang ổn định, hiện giá thép dao động từ 12.520 - 13.640 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Tại miền Bắc, giá thép Việt Đức ghi nhận ở mức 13.350 đồng/kg với thép cuộn CB240 và 12.850 đồng/kg với thép thanh vằn D10 CB300. Thép Hòa Phát duy trì mức giá 13.500 đồng/kg cho thép cuộn và 13.090 đồng/kg cho thép thanh vằn. Thép Việt Ý có giá cao nhất trong nhóm, đạt 13.640 đồng/kg cho CB240 và 12.880 đồng/kg cho D10 CB300.
Ở khu vực miền Trung, giá thép cũng ổn định. Thép Hòa Phát và Việt Đức có mức giá quanh 13.500 – 13.650 đồng/kg cho thép cuộn, trong khi thép VAS và Việt Nhật dao động nhẹ trong vùng 12.830 – 13.050 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá thép Hòa Phát vẫn giữ vững ở mức 13.500 đồng/kg, tương tự khu vực miền Bắc. Thép VAS giao dịch quanh mức 13.130 đồng/kg cho CB240 và 12.730 đồng/kg cho D10 CB300, trong khi thép TungHo duy trì giá thấp nhất, chỉ từ 12.520 đồng/kg.
PV (t/h)