09:00 22/01/2023

Giải pháp “ghìm cương” lạm phát

Việt Nam là một trong những quốc gia có mức lạm phát thấp nhất thế giới và vẫn trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên, trước tình hình kinh tế và chính trị trên thế giới dự báo tiếp tục có những biến động, Việt Nam vẫn còn rất nhiều thách thức đón đợi. Trước những sức ép hiện hữu, chúng ta cần có những giải pháp để “ghìm cương” lạm phát, nằm trong tầm kiểm soát.

Lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát

Trong bối cảnh lạm phát của toàn cầu gia tăng, bên cạnh nguyên nhân kéo dài và chi phí đẩy còn do hệ quả của việc nới lỏng các biện pháp tài khóa, tiền tệ trong giai đoạn dịch Covid -19 kéo theo nhu cầu tiêu dùng, đầu tư tăng trong khi nguồn cung ứng bị đứt gãy chưa hoàn toàn hồi phục. Theo phân tích của Ngân hàng Deutsche (Đức) về lạm phát ở 111 nước, tỷ lệ lạm phát trung bình trong 12 tháng qua (từ tháng 6-2021 đến tháng 5-2022) là 7,8%; tăng hơn gấp đôi so với một năm trước đó (3%), chủ yếu do giá nhiên liệu và lương thực, thực phẩm tăng vọt.

Tại Việt Nam, theo số liệu của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), bên cạnh sự phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế nửa đầu năm 2022, chỉ số lạm phát bình quân của Việt Nam chỉ tăng 2,44% so với cùng kỳ.

Giải pháp “ghìm cương” lạm phát
Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 3 và quý I các năm giai đoạn 2018-2022 (%).

Nhìn lại nửa đầu năm, ở nước ta giá xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng tăng theo giá thế giới; giá vật liệu xây dựng tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào; giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu; nhu cầu ăn uống, đi lại, du lịch hồi phục trở lại khi dịch Covid-19 được kiểm soát là những nguyên nhân gây áp lực tăng lạm phát khiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng.

Các chuyên gia kinh tế đã phân tích, trong bối cảnh đó, Chính phủ, các bộ, ngành liên quan đã điều hành linh hoạt, chủ động các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác nhằm ứng phó với những thách thức trước áp lực lạm phát gia tăng.

Tại cuộc họp Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia vừa diễn ra, Phó thủ tướng Lê Minh Khái đánh giá trong thời gian còn lại của năm 2022, dự báo kinh tế thế giới phục hồi chậm lại, lạm phát tiếp tục cao ở một số nền kinh tế lớn; xung đột tại Ukraine có thể kéo dài, tiềm ẩn nhiều rủi ro đến ổn định chính trị khu vực, toàn cầu, thị trường tài chính, tiền tệ và quan hệ thương mại quốc tế.

Trong khi đó, T.S Phí Vĩnh Tường, Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị thế giới phân tích: “Tình hình bất ổn của thế giới năm 2022 đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế thế giới. Cạnh tranh công nghệ Mỹ - Trung, cuộc chiến Nga – Ukraine hay những vấn đề khu vực khác khiến các nỗ lực phục hồi kinh tế thế giới sau đại dịch bị hạn chế. Kinh tế thế giới đối mặt với tình trạng đình đốn song hành cùng lạm phát, mất an ninh lương thực và mất an ninh năng lượng. Đó là không tính đến những vấn đề ảnh hưởng dai dẳng của đại dịch Covid-19. Việt Nam, cũng chịu những tác động tiêu cực do đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, và vấn đề an ninh năng lượng đã bộc lộ rõ, khi sự gián đoạn nguồn cung khiến cho các hoạt động kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn”.

Giải pháp “ghìm cương” lạm phát
TS Phí Vĩnh Tường, Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính Trị thế giới

Nguyên nhân Việt Nam là một trong những quốc gia có mức lạm phát thấp là do chúng ta đã có những gói hỗ trợ nhằm khôi phục nền kinh tế sau đại dịch Covid -19. Dù các quốc gia khác cũng đã triển khai các gói cứu trợ quy mô lớn hơn đương nhiên sẽ phải đối mặt với áp lực giải quyết các vấn đề lạm phát lớn hơn.

Trong khi đó lạm pháp luôn có độ trễ, phụ thuộc vào thời gian triển khai chính sách. “Nhiều quốc gia sớm triển khai các gói cứu trợ quy mô lớn đã đối mặt với thách thức này, và sớm nhận ra không dễ để kiểm soát nó. Các nền kinh tế bao gồm Chi-lê, Brazil, Peru ở châu Mỹ, Ba lan, Nauy ở châu Âu, hay Hàn Quốc và Newzeland đã thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ từ khoảng 1 năm trước, khi quan sát thấy lạm phát tăng lên. Tuy nhiên, đến tháng 9 năm 2022, lạm phát cơ bản ở các nền kinh tế nói trên đã vào khoảng 9,5%, tăng thêm 3,5% so với thời điểm tháng 3 năm 2022.

Việc kiểm soát lạm phát của Mỹ cũng ảnh hưởng lớn đến dư địa chính sách chống lạm phát của các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam do vấn đề tỷ giá” – T.S Tường phân tích.

Mặc dù nền kinh tế trong nước có khả năng phục hồi nhanh hơn. Tuy nhiên, rủi ro, thách thức còn rất lớn, nhất là giá xăng dầu, nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, áp lực lạm phát nặng nề hơn… nhất là trong bối cảnh chúng ta đang tập trung thực hiện hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Thực tế cho thấy, giá cả nhiên liệu, nhất là xăng dầu thế giới sẽ tiếp tục ở mức cao do nguồn cung chưa đáp ứng đủ nhu cầu.

Các nước xuất khẩu dầu thô và khí đốt sẽ tiếp tục tăng sản lượng để bù đắp cho nguồn cung thiếu hụt từ Nga nhưng chắc chắn vẫn không đáp ứng nhu cầu. Chuỗi cung ứng vật tư, hàng hóa trên thế giới bị đứt gãy sẽ tiếp tục làm cho giá vật tư, hàng hóa nhập khẩu tăng cao.

Bà Lê Thanh Nga, Vụ Tài chính, tiền tệ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thì cho rằng, Việt Nam có mức độ hội nhập tương đối lớn, cung cầu, giá cả các mặt hàng chịu ảnh hưởng nhiều vào tình hình thị trường nguyên vật liệu nhập khẩu. Vì vậy, việc giá các mặt hàng nguyên liệu, đặc biệt là nhóm nhiên liệu, năng lượng trên thị trường thế giới tiếp tục tăng làm tăng giá nhiều nguyên, vật liệu nhập khẩu, chi phí vận chuyển, logistics tăng, dẫn đến tăng chi phí sản xuất và tăng giá hàng hóa trong nước - điều này sẽ tạo áp lực lạm phát cho nền kinh tế.

Giải pháp nào để “ghìm cương” lạm phát?

Năm 2022, Quốc hội đặt chỉ tiêu tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 4%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm nay tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước, lạm phát cơ bản tăng 1,25%.

Lạm phát bình quân 6 tháng đầu năm 2022 hiện vẫn đang thấp hơn mục tiêu Quốc hội đề ra nhưng với diễn biến giá cả các loại hàng hóa tăng trên thị trường thế giới, đặc biệt là nhóm hàng nhiên liệu, năng lượng như dầu khí, than đá, vật liệu xây dựng... thì việc thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức 4% sẽ gặp nhiều khó khăn.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, nếu lạm phát trung bình cả năm vượt mức 4%, lạm phát trung bình trong 6 tháng cuối năm phải ở mức trên 5,56%, tức là trong giai đoạn còn lại của năm 2022, CPI sẽ phải tăng trung bình 0,7%/tháng. Tuy nhiên, xác suất xảy ra kịch bản này là không cao, nguyên nhân giá xăng dầu và giá các nguyên vật liệu tăng mạnh trong 6 tháng đầu năm, CPI mới chỉ tăng trung bình khoảng 0,5%.

Thực tế cho thấy, Chính phủ Việt Nam đã có những phản ứng nhằm kiểm soát vấn đề lạm phát, như việc tăng lãi suất liên ngân hàng vào đầu tháng 10 năm 2022. Hiệu quả của chính sách kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô còn cần có thời gian để đánh giá.

Tuy nhiên, không thể không tính đến những tác động tiêu cực từ việc tăng lãi suất đến cơ hội phục hồi và phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam do đa số các doanh nghiệp này (trên 90%) là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa. Chi phí vốn của các doanh nghiệp tăng lên sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và do đó giảm triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế trong tương lai.

Giải pháp “ghìm cương” lạm phát
Để kìm hãm đà tăng của CPI, cần kiểm soát chặt chẽ giá sản phẩm hàng hóa đầu vào.

Để kiềm chế lạm phát trong thời gian tới, TS Vĩnh Tường cho rằng, cùng với việc điều chỉnh kịp thời công cụ thuế đối với sản phẩm xăng dầu nhập khẩu nhằm ổn định giá, kìm hãm đà tăng của CPI cả nước trong khuôn khổ mục tiêu đã xác định thì cũng cần kiểm soát chặt chẽ giá sản phẩm hàng hóa đầu vào để hạn chế đà tăng giá bán, từng bước đầu tư tìm kiếm nguồn vật tư hàng hóa trong nước thay thế hàng nhập khẩu.

Qua đó, hạn chế tác động từ hàng nhập khẩu giá cao của thế giới. “Những thách thức của Việt Nam trong thời gian tới là vấn đề an ninh năng lượng, an ninh lương thực, lựa chọn thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài do cạnh tranh công nghệ Mỹ - Trung và quan trọng nhất, là phát triển doanh nghiệp Việt Nam. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa yếu thì nền kinh tế không thể phát triển bền vững” – TS Tường chia sẻ.

Một số dự báo cho rằng, giá nhiêu liệu có thể dao động đến 100 USD nhưng cũng có những quan điểm, giá nhiên liệu sẽ đi xuống sau đó và ở mức thấp. Tuy nhiên, TS Vĩnh Tường lại cho rằng đó chỉ là một trong nhiều yếu tố làm đứt gãy chuỗi cung ứng. Chính phủ Việt Nam nên có những giải pháp cụ thể.

Trong ngắn hạn: đa dạng hoá nguồn cung; cải cách hệ thống cung ứng năng lượng (xăng), để đảm bảo cung năng lượng diễn ra ổn định, không bị gián đoạn như thời gian qua; cắt giảm các thủ tục hành chính để giảm chi phí kinh doanh; nâng cao hiệu quả, hiệu suất của các nhà máy lọc hoá dầu ở Việt Nam.

Trong dài hạn, cần khuyến khích các doanh nghiệp chuyển đổi sử dụng các nguồn năng lượng thay thế; Thu hút đầu tư FDI bắt kịp với các xu hướng điều chỉnh chuỗi cung ứng của thế giới.

Quang Anh