14:27 05/10/2018

Hành trình 30 năm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Trải qua hơn 30 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), có thể nói, FDI trở thành khu vực kinh tế rất quan trọng, đã và đang đưa Việt Nam bước lên “con thuyền” kinh tế thế giới.

Hành trình 30 năm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Samsung - nhà đầu tư FDI lớn nhất Việt Nam hiện nay.
Dấu mốc quan trọng

Đầu năm 1977, Chính phủ chủ trương soạn thảo một văn bản Luật tạo điều kiện và cơ sở pháp lý cho người nước ngoài đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam. Tổ soạn thảo được ấn định gồm 4 thành viên, ông Trịnh Văn Bính (Bộ Tài chính), GS Nguyễn Ngọc Minh (Uỷ ban Khoa học xã hội), ông Lê Kim Chung (Bộ Ngoại giao) và GS Lưu Văn Đạt (Bộ Ngoại thương). 

Ngày 19/4/1977, Điều lệ Đầu tư nước ngoài chính thức được ban hành, sau hơn hai tháng soạn thảo, được xem là cơ sở pháp lý đầu tiên cho dòng vốn ngoại vào Việt Nam.

Tuy nhiên, do điều kiện quốc tế khi ấy không mấy thuận lợi cho mở rộng và phát triển ngoại thương, Điều lệ này không đem lại kết quả như mong muốn. 7 năm sau, yêu cầu hoàn thiện và soạn thảo một bộ Luật đầu tư hoàn chỉnh mới được đặt lại. 

Tháng 12/1987, Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc hội thông qua đã mở đường cho dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tạo ra một khu vực kinh tế quan trọng góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Hành trình 30 năm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Ngày 7/4/1988, tờ giấy phép cho dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đầu tiên chính thức được Bộ Kinh tế Đối ngoại cấp cho một liên doanh giữa Công ty Hochimex của Hong Kong và Công ty Du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu. Những đồng vốn đầu tiên trị giá hơn 2 triệu USD lúc đó của Hochimex đi vào lịch sử thu hút vốn ngoại của Việt Nam, mở đường cho một hành trình mà sau lần đầu tiên ấy, đến nay đã có hơn 26.400 dự án khác với quy mô vốn gần 335 tỷ USD.

Những khó khăn, thách thức

Trước ngưỡng cửa của thời kỳ đổi mới năm 1986, việc soạn thảo và lấy ý kiến dự thảo Luật đầu tư nước ngoài lại gặp không ít trắc trở, đặc biệt khi điểm mấu chốt gây tranh cãi là tỷ lệ rót vốn của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bao nhiêu thì phù hợp. Ở thời kỳ được đánh giá là "giao thời", nhiều ý kiến cho rằng chủ trương mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ khiến nền kinh tế của Việt Nam bị "thôn tính".

Hành trình 30 năm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Việt Nam vào đầu những năm 90.
Một thực tế khi đó là những nước láng giềng như Thái Lan, Indonesia, Malaysia đều chưa cho phép hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài càng khiến chúng ta rụt rè hơn khi “mở toang cửa” như vậy.

Ở chiều ngược lại, thu hút vốn nước ngoài vốn là một cuộc đua đầy cam go - điều mà tới ngày nay vẫn luôn đúng. Vì vậy, lại có ý kiến băn khoăn, nếu không đưa ra một chính sách cởi mở hơn các nước thì khó có thể "bứt tốc" khi những quốc gia khác đã đi trước một quãng đường dài.

Khi những viên gạch đầu tiên về vấn đề pháp lý được đặt xuống, thách thức của công cuộc thay đổi mới thực sự bắt đầu.

Trong những năm đầu, nguồn vốn đầu tư còn rất dè dặt, một phần do công cuộc Đổi mới của Việt Nam mới ở giai đoạn bước đầu. Suốt hơn hai năm chỉ có 213 giấy phép đầu tư được cấp, với tổng vốn đăng ký gần 1,8 tỷ USD. Con số thực hiện còn khiêm tốn hơn nhiều lần.

Chưa kể, GDP bình quân đầu người của Việt Nam khi đó chỉ từ 100 - 200 USD, một nền kinh tế non trẻ vừa mới bước qua ngưỡng cửa năm 1986. Sự thiếu thốn về vật chất, lạc hậu về công nghệ, khó khăn về kinh tế là những rào cản tưởng chừng như khó có thể vượt qua.

Hành trình 30 năm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Tòa nhà HITC - Xuân Thủy, Cầu Giấy, hơn 20 năm trước là một trong những dự án có vốn FDI đầu tiên của Hà Nội. Dự án này được cấp phép năm 1992, xây dựng rồi hoàn thành năm 1995.

Những làn sóng FDI

Sau một hai năm đầu có phần e dè, 5 năm tiếp theo, dòng vốn đầu tư FDI đã tăng với tốc độ phi mã với 2.230 dự án FDI đăng ký đầu tư vào Việt Nam, với hơn 16 tỷ USD vốn đăng ký và 13 tỷ USD vốn thực hiện. Trong đó, chỉ riêng năm 1997, vốn thực hiện đã đạt 3,1 tỷ USD, gấp 9,5 lần năm 1991.

Năm 1998, vốn đầu tư đăng ký chỉ đạt hơn 5 tỷ USD, rồi giảm xuống 2,8 tỷ USD vào năm 2000 và đến năm 2004 mới chỉ đạt hơn 4,5 tỷ USD.

Hành trình 30 năm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Dòng vốn FDI chững lại trong giai đoạn 1998 - 2004 do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực. Làn sóng đầu tư thứ hai bắt đầu từ năm 2005, khi Luật Đầu tư chính thức được ban hành thay thế cho hai Luật Đầu tư riêng rẽ trước đó và trở thành động lực cho dòng vốn FDI trở lại.

 Hai năm sau, Việt Nam chứng kiến những dự án tỷ USD đầu tiên, điều mà trước đó hơn 10 năm, ngay cả những chuyên gia đầu ngành cũng chưa nghĩ đến. Năm 2007, Dự án của Tập đoàn Intel đầu tư vào Khu công nghệ cao TP HCM với quy mô 1 tỷ USD và Dự án Nhà máy thép Posco (Hàn Quốc) tại khu công nghiệp Phú Mỹ II, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu – 1,1 tỷ USD được cấp phép. Nối tiếp sau đó những nhà đầu tư đình đám khác như Samsung, Formosa hay LG cũng lần lượt góp mặt. 

Làn sóng này chững lại vào giai đoạn 2008 - 2009 khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng đáng kể bởi nhiều nhà đầu tư nước ngoài trở nên thận trọng hơn.

Tuy nhiên, khi kinh tế toàn cầu phục hồi, dòng vốn đầu tư cũng bắt đầu trở lại. "Chính phủ Việt Nam nhận ra rằng sự thiếu ổn định sẽ không giúp thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài. Và trong 10 năm gần đây, Việt Nam đã tạo ra một nền móng mà ở đó tỷ giá hối đoái, hạ tầng pháp lý, lạm phát và lãi suất đều giữ ổn định ", ông Andy Ho, Giám đốc đầu tư quỹ VinaCapital Vietnam Opportunity Fund chia sẻ  với CNBC.

Năm 2014, tổng vốn đăng ký đạt 20,23 tỷ USD, tổng vốn thực hiện 12,35 tỷ USD. Những con số này tiếp tục tăng đều trong ba năm sau đó và đến năm 2017 xác lập kỷ lục với tổng vốn đăng ký đạt 35,88 tỷ USD và tổng vốn thực hiện 17,5 tỷ USD.

Đến nay, hàng chục nghìn tấm giấy phép đầu tư đã được cấp cho các nhà đầu tư cùng đồng vốn ngoại mang tên FDI nhưng đồng thời cũng là không ít cơ hội và thách thức cho một nền kinh tế với độ mở ngày càng cao như Việt Nam.

Thanh Hà (tổng hợp)