11:41 19/09/2025

Khai thông nút thắt để đánh thức 'mỏ vàng' tỷ đô của ngành công nghiệp tái chế

Cơ hội khai thác “mỏ vàng” hàng tỷ USD cho ngành công nghiệp tái chế tại Việt Nam sẽ rộng mở khi các rào cản về quản lý thuế, chính sách hỗ trợ và khung pháp lý được tháo gỡ. Ngành nhựa hiện là minh chứng rõ rệt cho điều này.

Từ bất cập trong quản lý thuế

Trong văn bản gửi Bộ Tài chính gần đây, Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) chỉ ra rằng ngành nhựa Việt Nam đang mất nhiều đơn hàng xuất khẩu vì không thể mua được hạt nhựa tái chế có nguồn gốc xuất xứ trong nước. Điều này khiến doanh nghiệp không thể chứng minh tỷ lệ hạt nhựa tái chế trong sản phẩm xuất khẩu theo yêu cầu của các thị trường phát triển.

Nguyên nhân một phần xuất phát từ bất cập trong chính sách quản lý thuế. Theo VPA, nhiều năm nay Nhà nước gần như không thu được thuế hoặc thu không đáng kể đối với những người thu gom chất thải, nhưng lại vô tình đẩy họ vào tình trạng hoạt động phi chính thức, thiếu minh bạch.

Thực tế cho thấy các cá nhân và hộ gia đình thu gom không có khả năng thực hiện các thủ tục kế toán thuế. Nhiều người thậm chí không dám ký vào bảng kê bán hàng vì lo ngại lộ thông tin cá nhân hoặc gặp rủi ro với cơ quan thuế.

Những hộ kinh doanh, thu gom, phân loại chất thải tại các con phố hay làng nghề cũng không dám và không thể đăng ký hộ kinh doanh để xuất hóa đơn trực tiếp với mức 1,5% vì quy trình thủ tục quá phức tạp, không chỉ ở khâu thuế mà còn nhiều yêu cầu khác, trong khi họ cũng không đủ khả năng duy trì hệ thống kế toán thuế.

Dù Nhà nước đã nâng mức doanh thu miễn thuế cho cá nhân kinh doanh lên 200 triệu đồng mỗi năm, quy định này vẫn không phù hợp với những người thu gom phế liệu. Bởi họ phải mua chất thải từ các hộ gia đình để bán lại kiếm lời, chứ không được cho không. Thu nhập của họ chỉ đủ trang trải cuộc sống tối thiểu và chưa có an sinh xã hội như nhiều ngành nghề khác.

Trong khi đó, các doanh nghiệp tái chế lại không dám thu mua chất thải từ nguồn trong nước vì không chứng minh được đầu vào hợp pháp. Hệ quả là nhiều làng nghề tái chế hoạt động tự phát, gây ô nhiễm nghiêm trọng, còn ngành công nghiệp tái chế đạt chuẩn môi trường lại khó phát triển.

Trước thực trạng này, VPA kiến nghị miễn thuế giá trị gia tăng 1% và thuế thu nhập cá nhân 0,5% cho cá nhân và hộ gia đình thu gom chất thải, bao gồm bao bì và sản phẩm sau tiêu dùng. Hoặc cho phép các tổ chức thu gom, sơ chế, tái chế nộp thuế thay cho các cá nhân và hộ gia đình này.

Ông Đinh Đức Thắng, Chủ tịch VPA, nhấn mạnh rằng đã có luật, nghị quyết của Trung ương Đảng, các chỉ thị và quyết định của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến phát triển kinh tế tuần hoàn, thúc đẩy ngành công nghiệp tái chế, cũng như các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ tái sử dụng, tái chế và xử lý tới 85% lượng chất thải nhựa phát sinh. Do đó, việc thể chế hóa những chính sách này là hết sức cần thiết, trong đó miễn thuế cho hoạt động thu gom chất thải là điều kiện tiên quyết.

Miễn thuế hoặc cho phép doanh nghiệp nộp thuế thay sẽ khuyến khích hoạt động thu gom, tái chế, minh bạch hóa nguồn gốc rác thải và định hướng dòng chất thải đi vào các doanh nghiệp tái chế đạt chuẩn môi trường. Điều này vừa thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp tái chế, vừa góp phần xây dựng nền kinh tế tuần hoàn theo định hướng của Chính phủ.

Ông Thắng phân tích thêm rằng chính sách này còn giúp tăng thu ngân sách nhờ khoản thuế VAT ròng 10% vì khấu trừ đầu vào bằng 0. Đây là quy định thiết thực, hỗ trợ Nhà nước thực hiện chính sách mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất (EPR).

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 3,9 triệu tấn rác thải nhựa nhưng chỉ 10-15% được thu gom và tái chế. Ước tính 75% giá trị vật liệu nhựa, tương đương khoảng 2,9 tỷ USD mỗi năm, đang bị lãng phí hoặc bỏ ngỏ.

Khai thông nút thắt để đánh thức “mỏ vàng” tỷ đô của ngành công nghiệp tái chế
Cơ hội khai thác “mỏ vàng” hàng tỷ USD cho ngành công nghiệp tái chế tại Việt Nam sẽ rộng mở khi các rào cản về quản lý thuế, chính sách hỗ trợ và khung pháp lý được tháo gỡ. Ngành nhựa hiện là minh chứng rõ rệt cho điều này.

Đến hoàn thiện khung pháp lý

Các chuyên gia cho rằng, nếu Việt Nam đạt mục tiêu tái chế 70% lượng nhựa phát sinh mỗi năm, tức khoảng 1,5 triệu tấn, cơ hội kinh tế trị giá hàng tỷ USD sẽ được mở ra. Khi nhựa được sử dụng, thu gom và tái chế đúng cách, chúng không còn là gánh nặng môi trường mà trở thành nguồn nguyên liệu đầu vào giá trị cho nhiều ngành sản xuất.

Bên cạnh đó, các hiệp định thương mại tự do (FTA) cũng mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp tái chế nhựa Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế, đặc biệt là EU. Tuy nhiên, ngoài những vướng mắc về quản lý thuế mà VPA đã nêu, ngành công nghiệp tái chế nói chung và ngành tái chế nhựa nói riêng vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức khác cần được tháo gỡ.

Một trong những vấn đề quan trọng là hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), buộc các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về vòng đời sản phẩm của mình. Cùng với đó, chính sách hỗ trợ tài chính như giảm thuế và cung cấp nguồn vốn vay ưu đãi cũng cần được triển khai mạnh mẽ hơn để khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực tái chế.

Ngoài ra, ngành tái chế nhựa vẫn phải vượt qua nhiều rào cản về công nghệ, chính sách và nhận thức cộng đồng. Bà Huỳnh Thị Mỹ, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký VPA, cho biết tỷ lệ tái chế hiện vẫn còn thấp so với lượng nhựa tiêu thụ. Bà đề xuất xây dựng cơ chế thành lập các khu công nghiệp kinh tế tuần hoàn nhằm tạo hành lang pháp lý và điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng đầu tư, từ đó thúc đẩy ngành tái chế phát triển mạnh mẽ và hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Bà Mỹ cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và khu vực phi chính thức để hình thành một chuỗi cung ứng nhựa tái chế hiệu quả. Việc sớm tháo gỡ khó khăn, rào cản của ngành công nghiệp tái chế được xem là yếu tố then chốt để khai mở “mỏ vàng” tỷ đô, đặc biệt là thông qua các chính sách hỗ trợ kịp thời.

Thực tế, tháng 9/2025, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đã phê duyệt Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam giai đoạn 2025-2030. Mục tiêu đặt ra đến năm 2030, công nghệ và thiết bị trong ngành phải đáp ứng được 60-70% nhu cầu phân loại, tái chế chất thải rắn trong nước.

Song song với đó, để hình thành và phát triển các khu, cụm công nghiệp tái chế, cơ quan quản lý sẽ ban hành chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư. Doanh nghiệp tiếp nhận chuyển giao công nghệ, mua bán quyền sáng chế, phần mềm cũng được hưởng lợi từ các ưu đãi này.

Nhà nước kỳ vọng sẽ thu hút được vốn đầu tư nước ngoài vào ngành tái chế, tiến tới xuất khẩu một số công nghệ, thiết bị và sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh.

Thanh Cao