Trong bối cảnh ngày nay, kinh tế tư nhân và khoa học công nghệ là động lực chiến lược trong kỷ nguyên mới. Như Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định rằng: “Phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao vừa là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài.”
Vai trò và vị trí quan trọng của kinh tế tư nhân
Nghị quyết số 68-NQ/TW đã nhấn mạnh: “Phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao vừa là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài.”
Đây là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, và dẫn dắt công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững.
Việc phát huy mọi tiềm năng, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, kích hoạt, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực trong Nhân dân cho phát triển kinh tế - xã hội là mục tiêu cốt lõi của Nghị quyết 68.
TS. Nguyễn Thị Thu Hiền - Chủ tịch Hội đồng quản lý Viện Kinh tế và Pháp luật Quốc tế
Chia sẻ tại Tọa đàm chính sách “Phát triển kinh tế tư nhân – Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng trong thời kỳ vươn mình của dân tộc” diễn ra ngày 29/6 vừa qua, tại Hà Nội, do Hội Kỷ lục gia Việt Nam tổ chức, TS. Nguyễn Thị Thu Hiền - Chủ tịch Hội đồng quản lý Viện Kinh tế và Pháp luật Quốc tế tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân và khoa học công nghệ, đồng thời nhấn mạnh: “Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo - Huyết mạch cho khát vọng phát triển quốc gia.”
TS. Hiền viện dẫn: Việt Nam đang đứng trước cơ hội to lớn để chuyển mình thành một quốc gia có nền kinh tế tri thức, với mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 và đóng góp đáng kể của kinh tế số vào GDP. Khoa học và công nghệ được xác định là động lực then chốt cho sự phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thêm vào đó là việc Chính phủ đã thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với lĩnh vực này, với mục tiêu tăng ngân sách quốc gia dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) từ mức hiện tại là 1% GDP lên ít nhất 2%. Điều này phản ánh sâu sắc về vai trò không thể thiếu của KHCN trong việc thúc đẩy tăng trưởng bền vững và định vị Việt Nam như một quốc gia dẫn đầu về công nghệ.
Để đạt được những mục tiêu này, KHCN không chỉ dừng lại ở các nghiên cứu học thuật mà cần phải được chuyển hóa thành các sản phẩm và dịch vụ thương mại hóa cụ thể, tạo ra giá trị kinh tế và xã hội rõ ràng. Sự chuyển đổi này là yếu tố sống còn để đảm bảo rằng các khoản đầu tư vào KHCN mang lại hiệu quả tối đa và đóng góp thiết thực cho sự phát triển chung của đất nước.
TS. Hiền còn bày tỏ sự cấp thiết của việc đổi mới cơ chế tài chính và tín dụng. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và những thách thức mới của nền kinh tế toàn cầu, việc đổi mới và đa dạng hóa chính sách tài chính, tín dụng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, nhằm tạo ra một môi trường tài chính linh hoạt, hiệu quả, có khả năng phân bổ nguồn lực tối ưu, tiếp cận công bằng và quản lý rủi ro tốt hơn.
Cơ chế ưu đãi cho kinh tế tư nhân phát triển
Trong bối cảnh hiện nay, Nhà nước đã dành nguồn tài chính đáng kể để tài trợ cho nghiên cứu khoa học, thể hiện sự ưu tiên cao đối với lĩnh vực này, như việc ưu đãi thuế; Miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp có doanh thu từ sản phẩm mới, công nghệ cao, hoặc hoạt động nghiên cứu và phát triển. Có thể kể tới như Nghị định 12/2015/NĐ-CP; Nghị định 132/2020/NĐ-CP.
Cho phép doanh nghiệp được khấu trừ 150% chi phí vào sự sáng tạo và đổi mới để tạo ra giá trị trong tương lai vào thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Ngoài ra, còn có ưu đãi thuế đối với việc chuyển giao công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ.
Điểm nghẽ cần tháo gỡ để kinh tế tư nhân cất cánh
Cùng với đó là Quỹ Phát triển KHCN của doanh nghiệp được đề cập từ Luật Thuế TNDN 2008, Luật KHCN 2013 và Luật Chuyển giao công nghệ 2017, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thúc đẩy nghiên cứu và phát triển. Gần đây là Nghị quyết 43/2022/QH15 và Thông tư 67/2022/TT-BTC đã tháo gỡ vướng mắc, cho phép Quỹ dùng để mua sắm máy móc, thiết bị đổi mới công nghệ trực tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh.
Nghị quyết số 193/2025/QH15 cho phép tổ chức chủ trì nhiệm vụ KHCN sử dụng ngân sách nhà nước không phải hoàn trả kinh phí nếu không đạt kết quả dự kiến nhưng đã thực hiện đầy đủ quy định. Nền tảng pháp lý cho cơ chế tài chính KHCN chủ yếu dựa trên Luật Khoa học và Công nghệ 2013, Nghị định 95/2014/NĐ-CP (về đầu tư và cơ chế tài chính) và Nghị định 23/2014/NĐ-CP (về Quỹ NAFOSTED).
Những chính sách này đã tạo hành lang pháp lý ban đầu và thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong việc khuyến khích doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, tham gia sâu hơn vào hoạt động KHCN&ĐMST./.
Hải Bình