Đó là bình luận của chuyên gia kinh tế, TS Lê Xuân Nghĩa, tại hội thảo “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 2030, tầm nhìn đến 2045” tổ chức sáng 20/3 tại Hà Nội.
Ngày 20/3, tại Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Thế giới... phối hợp tổ chức hội thảo "Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045".
Xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Phát biểu tại hội thảo, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ cho rằng, hội thảo lần này rất có ý nghĩa, diễn ra trong bối cảnh chúng ta đang tích cực chuẩn bị văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Trong đó, Chính phủ được giao nhiệm vụ xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030, tầm nhìn 2045 - hai mốc rất quan trọng, tròn 100 năm thành lập Đảng (2030) và 100 năm lập nước (2045).
Mô hình tăng trưởng và chuyển đổi hình thành rõ nét qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc. Đến Hội nghị Trung ương khóa XII, Trung ương Đảng đã nhận diện cụ thể hơn về quan điểm mô hình tăng trưởng lấy hiệu quả làm thước đo năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời huy động phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực theo cơ chế thị trường, chú trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng, chuyển dần mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư và xuất khẩu. Theo đó, đầu tư xuất khẩu vào thị trường trong nước, chuyển dần gia tăng số lượng đầu vào sản xuất sang tăng năng suất, chất lượng lao động, ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII), Trung ương Đảng chú trọng nội dung khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo như một đột phá chiến lược để thực hiện mô hình tăng trưởng này.
Mô hình tăng trưởng không phải tự nhiên mà có được, thể hiện trong quan điểm của Đảng hay các quan điểm lớn, các vấn đề chính sách lớn, định hướng lớn để đạt được mô hình tăng trưởng. Vì vậy, nói đến mô hình tăng trưởng là nói đến tái cơ cấu nền kinh tế. Hai thành tố này gắn rất chặt với nhau, khi hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện, tái cơ cấu phát triển, lúc đó cần chú trọng đến yếu tố vĩ mô và các trọng tâm của tái cơ cấu.
Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh tới nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (2016): “Nhìn chung, mô hình tăng trưởng ở nước ta chậm được đổi mới, về cơ bản vẫn theo mô hình cũ; tăng trưởng vẫn dựa chủ yếu vào tăng đầu tư và tăng số lượng lao động, chưa dựa nhiều vào tăng năng suất lao động, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới tổ chức sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế”.
Chính vì vậy, trong giai đoạn tới, bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, nền kinh tế Việt Nam sẽ đứng trước các cơ hội và thách thức to lớn. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thông qua các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đang lan vào từng ngóc ngách của các lĩnh vực kinh tế, xã hội và quản trị, vừa tạo ra những cơ hội vừa tạo nên những thách thức cho mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Tận dụng cơ hội và giảm thiểu thách thức như thế nào để thúc đẩy chuyển đổi môi hình tăng trưởng kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 là chủ đề lớn để các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách cùng nhau xem xét và thảo luận, tìm ra những giải pháp chính sách cho giai đoạn mới...
 |
Quang cảnh hội thảo “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 2030, tầm nhìn đến 2045”
|
Động lực nào cho tăng trưởng?Theo chuyên gia kinh tế, TS Lê Xuân Nghĩa, Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng là điều cần thiết, tuy nhiên cần phải tìm đúng động lực tăng trưởng.
Ông Nghĩa cho hay hồi năm 2015, Ngân hàng Thế giới (WB) đã thực hiện một nghiên cứu đối với 81 quốc gia (trong đó có Việt Nam). Kết quả nghiên cứu chia 81 quốc gia thành 4 nhóm.
Nhóm 1 (gồm 25% số nước được nghiên cứu) trong khoảng thời gian 12 năm (1991 – 2013) đã tăng gấp đôi GDP. Ở những nước này, thay đổi tỷ trọng đóng góp vào GDP của dịch vụ 2,1%, còn công nghiệp là 0,6%.
Nhóm 2 (gồm 48% số nước được nghiên cứu) trong 12 năm tăng GDP từ 100 – 200%. Ở những nước này, thay đổi tỷ trọng đóng góp vào GDP của dịch vụ là 6,5%, công nghiệp là 1,4%.
Nhóm 3 (gồm 15% số nước được nghiên cứu) trong 12 năm tăng GDP từ 200 – 300%. Ở các nước này, thay đổi tỷ trọng đóng góp vào GDP của dịch vụ là 19,8%, công nghiệp là 0,7%.
Nhóm 4 (gồm 10% số nước được nghiên cứu) trong 12 năm tăng GDP trên 300%. Ở các nước này, thay đổi tỷ trọng đóng góp vào GDP của dịch vụ là 19,8%, công nghiệp là 0,1%.
Tính trung bình 81 nước, thay đổi tỷ trọng đóng góp vào GDP của dịch vụ là 6,2%, công nghiệp là 0,5%.
“Nghiên cứu này cho thấy mô hình tăng trưởng truyền thống, công nghiệp trước - dịch vụ sau, dường như phải xem xét lại. Người ta cho rằng thế giới đang đi vào dịch vụ nhanh hơn nhờ sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin và internet.
“Đấy là một gợi ý cho chúng ta khi nói đến động lực tăng trưởng. Tôi nghĩ chỗ nào vốn chảy vào nhiều nhất một cách tự nhiên, chỗ nào lao động tập trung nhiều nhất một cách tự nhiên, ta sẽ tìm động lực chỗ đó.
“Nhà đầu tư cũng vậy, chỗ nào có lợi nhuận thì họ sẽ vào chỗ đó. Và đó mới là chỗ ta tìm kiếm động lực”, ông Nghĩa nói.
PV (T/H)