15:12 04/11/2019

Nâng cao năng lực vận tải nội địa

Những năm qua, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, cùng với xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu, tham gia các Hiệp định thương mại tự do đã khiến cho nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa trong và ngoài nước không ngừng gia tăng. Đây cũng chính là thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước có cơ hội cạnh tranh đầu tư vào lĩnh vực này. Chính vì vậy, các doanh nghiệp vận tải nội địa cần đổi mới đầu tư nhằm nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ vận tải để giữ được lợi thế trên sân nhà.

Chất lượng của nguồn nhân lực không cao và thiếu hụt nguồn vốn đã làm cho các doanh nghiệp  vận tải trong nước kém sức cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp logistics nước ngoài. 
Thực trạng vận tải nội địa hiện nay

Tính đến hết năm 2018, cả nước có hơn 39 nghìn doanh nghiệp vận tải kho bãi đang hoạt động, tăng 10,8% so với năm 2017; đem lại hơn 1,77 triệu việc làm cho người lao động. Trong 9 tháng đầu năm 2019, có thêm 4.258 doanh nghiệp vận tải, kho bãi mới được thành lập, chiếm 4,16% tổng số doanh nghiệp mới thành lập trên cả nước.

Theo thống kê cho thấy, đến hết quý III của năm 2019, vận tải hành khách đạt 3.792,5 triệu lượt khách, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hành khách đường bộ và đường hàng không có mức tăng cao nhất. Vận tải hành khách bằng đường bộ 9 tháng đạt 3.586,5 triệu lượt khách, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước; đường hàng không đạt 42,2 triệu lượt khách, tăng 10%; đường thủy nội địa đạt 151,4 triệu lượt khách, tăng 5,7%; đường biển đạt gần 5,8 triệu lượt khách, tăng 4,9%; đường sắt đạt 6,6 triệu lượt khách,  giảm  5,7%. Trước những khó khăn, thách thức mang tính toàn cầu, hoạt động vận tải trong nửa đầu năm 2019 có phần ổn định và nằm trong số 4/5 ngành đường có mức tăng trưởng khá, đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa ngày càng tăng cao của người dân. Riêng vận tải đường sắt tiếp tục có xu hướng giảm cả về vận tải hành khách và hàng hóa do hạn chế về năng lực chạy tàu, tốc độ kỹ thuật chưa cao, kết nối với các phương tiện vận tải khác còn nhiều bất cập.

Trong giai đoạn này, xuất khẩu dịch vụ vận tải tuy đạt 2,2 tỷ USD, chiếm 18,2% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ của cả nước, tăng 1,3% nhưng nhập khẩu dịch vụ vận tải lại lên đến 6,8 tỉ USD, chiếm 48,1% tổng kim ngạch nhập khẩu dịch vụ, tăng 4,9%. Như vậy, Việt Nam đã phải nhập siêu 4,6 tỉ USD dịch vụ vận tải. Điều đó cho thấy năng lực cung ứng dịch vụ vận tải của các doanh nghiệp vận tải nội địa còn nhiều hạn chế, bất cập.

Nguyên nhân đầu tiên là chất lượng dịch vụ còn hạn chế. Cụ thể là chất lượng của nguồn nhân lực không cao và thiếu hụt nguồn vốn đã làm cho các doanh nghiệp  vận tải trong nước kém sức cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp logistics nước ngoài. Đa số các doanh nghiệp logistics trong nước chưa có sự đầu tư tốt về trang bị vật chất, phương tiện vận chuyển chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng như độ an toàn, đăng kiểm, bảo hiểm, các tiêu chuẩn sử dụng... Trong khi đó, nguồn nhân lực của ngành này còn hạn chế, phần lớn lao động mới có trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng và lao động chưa qua đào tạo. Vì vậy, lực lượng lao động còn yếu về nghiệp vụ, chưa xây dựng được phong cách làm việc chuyên nghiệp, văn minh, lịch sự.

Nguyên nhân khác phải nhắc đến, đó là các các doanh nghiệp vận tải nội địa hoạt động còn nhỏ lẻ, chưa xây dựng được chuỗi liên kết để hỗ trợ nhau trước các yêu cầu, đòi hỏi mang tầm quốc tế về dịch vụ của đối tác trong và ngoài nước. Quy mô của các doanh nghiệp vận tải Việt Nam còn khá nhỏ, hoạt động riêng lẻ, trong khi việc thực hiện các hoạt động kinh doanh vận tải ngày càng đòi hỏi quy mô lớn và năng lực mạnh, do khối lượng hàng hóa xuất - nhập khẩu ngày càng tăng cao với những đòi hỏi khắt khe về chất lượng dịch vụ.

Đặc biệt hiện nay, gánh nặng chi phí đang là rào cản lớn nhất đối với doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, việc đầu tư chưa hợp lý giữa các phương thức vận tải và kết nối kém giữa các doanh nghiệp đã góp phần làm tăng chi phí vận tải. Đó là chưa kể, ngoài các chi phí được quy định, doanh nghiệp vận tải nội địa còn phải gánh thêm rất nhiều khoản chi phí không chính thức khác. Chi phí vận tải quá cao đã khiến cho hàng hóa lưu thông trên thị trường bán lẻ bị ảnh hưởng trực tiếp.

Dù trong thời gian qua, Nhà nước đã đầu tư khá mạnh vào phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, đặc biệt là đường bộ, song vẫn chưa theo kịp nhu cầu phát triển của xã hội cũng như nhu cầu về cơ sở hạ tầng giao thông của ngành vận tải. Hiện nay, đường bộ là loại hình chủ đạo của hoạt động dịch vụ vận tải đồng nghĩa với việc đòi hỏi phải có hệ thống giao thông chính yếu và thứ yếu thông suốt. Tuy nhiên, theo thống kê của Logistics Việt Nam, hệ thống đường bộ nước ta có 24.136 km quốc lộ (đường chính yếu), và 25.741 km đường tỉnh (đường thứ yếu). Như vậy, đường giao thông thứ yếu chưa bao phủ nên nhu cầu tập trung quá lớn vào đường chính ở những điểm kết nối đã gây nên tình trạng xung đột giữa lưu lượng xe địa phương và lưu lượng xe đi suốt. Hiện tượng này đã làm giảm hiệu quả hoạt động vận tải, khiến cho thời gian hàng hóa tham gia vào quá trình vận tải bị kéo dài, gây ứ đọng vốn, thời gian giao hàng không chuẩn xác, chi phí vận tải tăng.

Ngoài ra, một nguyên nhân nữa là do doanh nghiệp vận tải nội địa còn những hạn chế, bất cập như chưa xây dựng được thương hiệu uy tín, phong cách làm việc cũng như năng lực nhân viên; nạn xe dù bến cóc, tăng giá tùy tiện cũng là một trong những thách thức với các đơn vị quản lý; chất lượng dịch vụ, phương tiện, thái độ phục vụ khách hàng của doanh nghiệp và lái xe cũng là những vấn đề cần được xem xét và củng cố.

Các doanh nghiệp vận tải nội địa cần mở rộng quy mô kinh doanh; cải thiện tính chuyên nghiệp, khẳng định uy tín, thương hiệu với các đối tác. 

Giải pháp nâng cao năng lực vận tải nội địa

Trong xu thế hội nhập, để nâng cao năng lực ngành dịch vụ vận tải, giúp giảm chi phí và gia tăng sự sôi động của các nhà bán lẻ, cần có sự phối kết hợp của cả các đơn vị doanh nghiệp và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhằm từng bước tháo gỡ những hạn chế đang là rào cản.

Trước mắt, cần bổ sung, sửa đổi nội dung về dịch vụ vận tải trong Luật Thương mại nhằm tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho hoạt động vận tải; Kiến nghị sửa đổi, ban hành mới các chính sách, pháp luật điều chỉnh dịch vụ vận tải, vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giới; Rà soát các cam kết quốc tế về dịch vụ vận tải tại WTO, ASEAN và các Hiệp định thương mại tự do (FTA) nhằm kiến nghị các biện pháp đảm bảo tránh xung đột trong cam kết về logistics tại các diễn đàn quốc tế, tránh xung đột giữa cam kết quốc tế về vận tải với pháp luật trong nước. Xây dựng phương án đàm phán cam kết về dịch vụ vận tải tại các FTA trong tương lai.

Tiếp đó, các doanh nghiệp vận tải nội địa cần mở rộng quy mô kinh doanh; cải thiện tính chuyên nghiệp, khẳng định uy tín, thương hiệu với các đối tác. Song song với việc thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp, từng bước xây dựng chuỗi liên kết cung ứng dịch vụ trọn gói nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn, yêu cầu quốc tế, mở rộng thị trường khu vực và trên toàn thế giới. Cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, vì mục đích chung lâu dài, không chỉ vì lợi ích trước mắt.

Cần rà soát các quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo tính đồng bộ của kết cấu hạ tầng giao thông  và vận tải, đảm bảo các quy hoạch, kế hoạch về giao thông, vận tải phù hợp với các chiến lược, quy hoạch về sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xuất nhập khẩu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, gắn kết quy hoạch về trung tâm logistics, cảng cạn, kho ngoại quan trong một tổng thể thống nhất.

Cần khuyến khích doanh nghiệp trong một số ngành áp dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng tiên tiến trong quá trình sản xuất, kinh doanh, trong đó, chú trọng triển khai các hoạt động vận tải nội địa trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin và các công nghệ mới trong vận tải nội địa. Khuyến khích một số khu công nghiệp, khu chế xuất xây dựng hình mẫu khu công nghiệp dựa trên nền tảng vận tải nội địa. Ưu tiên bố trí ngân sách hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ và tiến bộ kỹ thuật cho phát triển dịch vụ vận tải nội địa, xã hội hóa nguồn lực cho phát triển dịch vụ vận tải nội địa. Hỗ trợ xây dựng những tập đoàn mạnh về vận tải nội địa, tiến tới đầu tư ra nước ngoài và xuất khẩu dịch vụ vận tải. Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng, xử lý tranh chấp liên quan đến hoạt động vận tải…

Cần đào tạo và tái đào tạo nguồn lực hiện có, thu hút lao động có trình độ chuyên ngành liên quan, am tường ngoại ngữ, có kiến thức địa lý, ngoại thương, hỗ trợ sinh viên thực tập để tăng cơ hội lựa chọn người giỏi, cập nhật thường xuyên kỹ thuật mới trong nghiệp vụ giao nhận vận tải quốc tế; góp phần thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại, tái cấu trúc hoạt động sản xuất, thương mại của doanh nghiệp.

Để phát triển thị trường dịch vụ vận tải cần chủ động đăng cai, tổ chức các hội thảo, hội chợ, triển lãm quốc tế về vận tải; Tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế về vận tải; Tổ chức các đoàn nghiên cứu ra nước ngoài và mời các đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam trao đổi cơ hội đầu tư, hợp tác về phát triển dịch vụ vận tải; Tăng cường liên kết với các hiệp hội và doanh nghiệp dịch vụ vận tải khu vực ASEAN và trên thế giới; Thu hút đông đảo doanh nghiệp vận tải nước ngoài đến làm ăn, hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam.

Minh Hà