Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), hiện vẫn có một số tổ chức tín dụng (TCTD) duy trì tỷ trọng cho vay lớn vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao như kinh doanh bất động sản, đồng thời tập trung tín dụng quá mức vào nhóm khách hàng lớn – đặc biệt là các doanh nghiệp có liên quan đến chính chủ sở hữu ngân hàng.
Sức khỏe hệ thống ngân hàng khởi sắc rõ rệt sau 5 năm tái cơ cấu
Theo báo cáo của Chính phủ, quá trình tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) giai đoạn 2021–2025 đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chủ động hoàn thiện khung khổ pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, siết chặt xử lý nợ xấu, chấm dứt tình trạng sở hữu chéo, đồng thời thúc đẩy ứng dụng công nghệ số, phát triển các sản phẩm – dịch vụ ngân hàng hiện đại. Song song với đó, năng lực tài chính, quản trị và chất lượng tín dụng của các TCTD được củng cố, hướng đến mục tiêu an toàn, ổn định và phát triển bền vững.
Đến nay, hầu hết các TCTD đã được phê duyệt và đang triển khai kế hoạch cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021–2025, với các giải pháp tập trung vào nâng cao chất lượng tín dụng, cải thiện quản trị điều hành và ứng dụng công nghệ.
Tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống (không bao gồm 5 ngân hàng thương mại đang bị kiểm soát đặc biệt) đến cuối tháng 7/2025 chỉ còn 1,69%.
Về an toàn vốn, toàn bộ các ngân hàng thương mại (ngoại trừ nhóm yếu kém) đã áp dụng chuẩn Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn. Hiện đã có 90 TCTD (bao gồm 4 ngân hàng thương mại Nhà nước, 25 ngân hàng thương mại cổ phần, 11 ngân hàng liên doanh, 100% vốn nước ngoài và 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài) áp dụng tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN. Chỉ còn một ngân hàng chưa hoàn tất triển khai và đang bị NHNN giám sát theo đúng lộ trình cơ cấu lại.
Hầu hết các TCTD đều đáp ứng các tỷ lệ đảm bảo an toàn theo quy định, gồm: tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi.
Sau 5 năm, hệ thống ngân hàng tiếp tục duy trì ổn định, an toàn; quyền lợi của người gửi tiền được bảo đảm, góp phần củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với hệ thống tài chính – ngân hàng.
Đáng chú ý, đã có 4 ngân hàng yếu kém được xử lý theo hình thức chuyển giao bắt buộc thành công, trong khi phương án tái cơ cấu SCB đang được trình cấp có thẩm quyền xem xét.
Công tác xử lý nợ xấu đạt kết quả rõ rệt. Từ năm 2021 đến cuối tháng 7/2025, toàn hệ thống đã xử lý hơn 1,1 triệu tỷ đồng nợ xấu. Trong đó, các TCTD tự xử lý 998.400 tỷ đồng (chiếm 87,1%), phần còn lại được xử lý thông qua bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản (VAMC) và các tổ chức, cá nhân khác (147.700 tỷ đồng, tương đương 12,9%).
Cùng với đó, quá trình thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ngân hàng tiếp tục được đẩy mạnh. Trong 5 năm qua, 4 ngân hàng thương mại Nhà nước đã thu về 8.399,4 tỷ đồng từ hoạt động thoái vốn.
Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), hiện vẫn có một số tổ chức tín dụng (TCTD) duy trì tỷ trọng cho vay lớn vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao như kinh doanh bất động sản, đồng thời tập trung tín dụng quá mức vào nhóm khách hàng lớn.
Tín dụng lĩnh vực rủi ro và cho vay “sân sau” vẫn phức tạp
Bên cạnh các kết quả đạt được, Chính phủ thẳng thắn chỉ rõ tiến trình cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) vẫn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế.
Cụ thể, việc xử lý một số TCTD yếu kém tiếp tục gặp khó khăn do thiếu hành lang pháp lý đầy đủ và cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với các TCTD tham gia nhận chuyển giao bắt buộc. Một số đơn vị triển khai phương án cơ cấu lại còn chậm, không đảm bảo tiến độ theo kế hoạch đã được phê duyệt.
Nợ xấu tuy đã được xử lý bước đầu nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro đối với an toàn hệ thống. Nợ xấu chủ yếu tập trung tại các TCTD yếu kém, nhiều khoản liên quan đến vụ án, hồ sơ pháp lý chưa hoàn thiện, trong khi năng lực trích lập dự phòng còn hạn chế.
Chính phủ nhấn mạnh tình trạng cấp tín dụng tập trung với tỷ trọng lớn vào các lĩnh vực rủi ro như bất động sản, đặc biệt là các dự án cao cấp mang tính đầu cơ, khách hàng lớn và nhóm người có liên quan nhất là các “sân sau” gắn với chủ sở hữu ngân hàng vẫn diễn biến phức tạp. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp của một số TCTD còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn.
Công tác kiểm soát nội bộ, kiểm toán và kiểm tra tại một số TCTD chưa kịp thời, thiếu hiệu quả, dẫn đến tồn tại kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của đơn vị.
Ở mảng thanh toán, lo ngại về an ninh – an toàn trong giao dịch điện tử, trực tuyến vẫn phổ biến. Hạ tầng chi nhánh, mạng lưới thanh toán của các đơn vị trung gian còn tập trung tại đô thị, chưa phủ rộng đến khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Quy định pháp lý về hoạt động đại lý thanh toán vẫn trong quá trình hoàn thiện, cần thêm thời gian hướng dẫn để đảm bảo vận hành hiệu quả và an toàn.
Công tác phòng chống gian lận, lừa đảo trực tuyến và tội phạm công nghệ cao trong thanh toán điện tử đối mặt với nhiều thách thức do tội phạm hoạt động ngày càng tinh vi, xuyên biên giới, gắn với các hành vi bất hợp pháp như cờ bạc, lừa đảo, gian lận thương mại, trốn thuế, ma túy...
Về nguyên nhân, Chính phủ phân tích: bối cảnh quốc tế biến động khó lường, trong nước áp lực cung ứng vốn lớn trong khi thị trường tài chính chưa phát triển cân xứng, tạo rủi ro về kỳ hạn và thanh khoản (huy động ngắn hạn – cho vay trung dài hạn).
Đối với các TCTD phi ngân hàng có chủ sở hữu là các Tập đoàn/Tổng công ty Nhà nước, việc tái cơ cấu phụ thuộc vào phê duyệt của cấp có thẩm quyền và sự hỗ trợ, chỉ đạo từ bộ ngành chủ quản. Tuy nhiên, nhiều tập đoàn, tổng công ty hiện đang gặp khó khăn về tài chính, thiếu nguồn lực để xử lý tổn thất và tham gia cơ cấu lại.
Công tác thanh tra, giám sát ngân hàng dù đã có bước tiến như ứng dụng công nghệ thông tin, hoàn thiện hành lang pháp lý theo Basel II, ban hành cẩm nang giám sát và các quy định quản trị nội bộ… nhưng vẫn còn hạn chế về nguồn lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao, cần tiếp tục được rà soát và đổi mới.
Bình Minh