Trong khuôn khổ của một bài tham luận tại Hội thảo khoa học, bài viết dưới đây phân tích bản chất cách mạng, khoa học của Học thuyết Mác – Lênin về hình thái KT-XH và nhận diện, phản bác các luận điệu sai trái đó bằng những luận cứ khoa học. Thông qua đó nhằm góp phần khẳng định giá trị của học thuyết Mác – Lênin trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân trên toàn thế giới nói chung và ở Vi
1. Tóm tắt
Học thuyết Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới. Trong đó, lý luận về hình thái kinh tế - xã hội là một trong những trụ cột lý luận cốt lõi, góp phần lý giải quy luật phát triển khách quan của lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, cùng sự phát triển của các trào lưu tư tưởng đa chiều, đã xuất hiện nhiều quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận, thậm chí là công kích học thuyết Mác – Lênin, đặc biệt là lý luận về hình thái kinh tế - xã hội. Điều này không chỉ làm xói mòn niềm tin vào con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà còn gây ra sự nhiễu loạn về tư tưởng, ảnh hưởng đến nền tảng lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam và công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
Trong khuôn khổ của một bài tham luận tại Hội thảo khoa học, bài viết nhằm phân tích bản chất cách mạng, khoa học của Học thuyết Mác – Lênin về hình thái KT-XH và nhận diện, phản bác các luận điệu sai trái đó bằng những luận cứ khoa học. Thông qua đó nhằm góp phần khẳng định giá trị của học thuyết Mác – Lênin trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam hiện nay nói riêng.
Từ khóa: quan điểm sai trái, xuyên tạc, học thuyết Mác - Lênin, Hình thái kinh tế - xã hội.
2. Đặt vấn đề
Trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới và phát triển đất nước hiện nay, việc bảo vệ Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là một nhiệm vụ cấp thiết. Học thuyết Mác – Lênin về hình thái kinh tế - xã hội là một trong số những nội dung luôn bị các thế lực phản động và thù địch công kích mạnh mẽ bởi nó là hòn đá tảng trong việc lý giải sự phát triển của lịch sử loài người và định hướng cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Việc xuyên tạc học thuyết này không chỉ là sai lầm về mặt lý luận mà còn chứa đựng âm mưu chính trị nguy hiểm. Do đó, cần đi sâu nghiên cứu, phân tích và bác bỏ các luận điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, đồng thời khẳng định giá trị khoa học, cách mạng và giá trị thực tiễn của học thuyết Hình thái kinh tế - xã hội. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi mà khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, điều đó đòi hỏi chúng ta càng phải nhận thức sâu sắc hơn về những biến đổi của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa, đúng như những gì mà C. Mác đã dự báo trước đây.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Học thuyết Mác – Lênin về Hình thái kinh tế - xã hội là thành quả nổi bật của chủ nghĩa duy vật lịch sử, giải thích sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Theo đó, mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một chỉnh thể bao gồm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội tuân theo quy luật khách quan: quy luật quan hệ sản xuất giữa phủ hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, Lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao một cách tuần tự và có thể phát triển theo phương thức bỏ qua một vài hình thái kinh tế - xã hội đẻ tiến tới một hình thái kinh tế xã hội tiến bộ hơn. Thực tế đã chứng minh rằng, lịch sử xã hội loài người đã trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội: Cộng sản nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa.
Ở Việt Nam, trong bối cảnh hiện nay, xuất hiện nhiều quan điểm sai trái, xuyên tạc đã và đang phủ nhận hoặc công kích học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội của Chủ nghĩa Mác -Lênin. Việc phản biện, chỉ ra những sự sai lệch đó là yêu cầu thiết yếu để giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước. Tác giả bài viết sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin và hệ thống các phương pháp khoa học khác như: phân tích - tổng hợp, lôgic – lịch sử, so sánh, thu thập và xử lý tài liệu, văn bản học, …
4. Nội dung và kết quả nghiên cứu, phân tích
4.1. Học thuyết Hình thái Kinh tế - Xã hội là phương pháp tiếp cận khoa học và cách mạng về lịch sử xã hội loài người
Học thuyết Hình thái kinh tế - xã hội (HTKT-XH) là một trong những trụ cột lý luận quan trọng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, góp phần lý giải sự phát triển khách quan của lịch sử loài người.
C. Mác nghiên cứu xã hội từ cách tiếp cận duy vật lịch sử. Theo đó, xã hội là một chỉnh thể bao gồm hai lĩnh vực là đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Để có thể tồn tại, con người phải sản xuất ra cái ăn, mặc, phương tiện đi lại, sau đó sản xuất ra các sản phẩm tinh thần và “sản xuất” ra chính con người. Lịch sử xã hội loài người là lịch sử của lực lượng sản xuất, lịch sử phát triển của phương thức sản xuất, lịch sử phát triển của các Hình thài kinh tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao tuân theo các quy luật khách quan. Do vậy, phương pháp tiếp cận lịch sử của C. Mác khác hoàn toàn về chất so với phương pháp tiếp cận lịch sử của Alvin Toffer bằng " lý thuyết các nền văn minh".
C. Mác cho rằng, xã hội là một chỉnh thể có hệ thống và cấu trúc, trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định đều có các yếu tố cơ bản và phổ biến. Lực lượng sản xuất (LLSX); quan hệ sản xuất (QHSX) - các quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở hạ tầng (CSHT) và được xây dựng trên CSHT ấy một kiến trúc thượng tầng (KTTT) tương ứng. Trong đó LLSX là nền tảng vật chất của xã hội, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các thời đại kinh tế, là yếu tố xét đến cùng qui định sự phát triển của các HTKT- XH. QHSX là quan hệ khách quan, cơ bản hình thành trong quá trình sản xuất, là quan hệ quyết định, chi phối mọi quan hệ xã hội, là tiêu chuẩn để phân biệt bản chất các xã hội khác nhau ở từng giai đoạn lịch sử. KTTT thể hiện bộ mặt tinh thần của đời sống xã hội, do CSHT quyết định, có tính độc lập tương đối, tác động trở lại CSHT. Sự tác động lẫn nhau của các yếu tố trong HTKT- XH, hình thành qui luật cơ bản, đó là quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, quy luật biện chứng giữa CSHT và KTTT. Sự tác động tổng hợp của hai qui luật ấy là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội.
C. Mác và Ph. Ăngghen đã khái quát và sử dụng phạm trù Hình thái kinh tế - xã hội để chỉ một kiểu tổ chức xã hội trong một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, bao gồm một phương thức sản xuất vật chất nhất định (biểu hiện sự tác động biện chứng, qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất) cùng với kiến trúc thượng tầng tương ứng. Trên cơ sở đó, mỗi Hình thái kinh tế - xã hội đều có quá trình ra đời, phát triển và thay thế bởi một hình thái khác cao hơn theo quy luật khách quan.
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng, để con người có thể sống, tồn tại, phát triển thì tất yếu con người phải sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Sản xuất là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển những mối quan hệ xã hội của con người, mang đến sự hợp tác, yếu tố cạnh tranh thúc đẩy sản xuất nên một tầm cao mới. Nó chính là cơ sở của sự hình thành, biến đổi và phát triển của xã hội loài người. Tác động lên nhận thức, điều chỉnh các hành vi và làm mới đời sống của con người, chất lượng của xã hội. Chính quá trình sản xuất vật chất, tạo ra của cải để nuôi sống bản thân con người, cùng với đó và sau đó, con người đồng thời tiến hành sản xuất ra các giá trị tinh thần cho xã hội và tái sản xuất ra chính bản thân mình. Và lẽ đương nhiên, mọi sự biến đổi của xã hội đều xuất phát từ sự thay đổi của sản xuất vật chất. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng minh rằng, hoạt động thực tiễn của con người tạo nên xã hội và làm thay đổi bộ mặt xã hội, rằng: "Những quan hệ sản xuất đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất. Do đó được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay bằng tay đưa lại cho xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp"[1]
C. Mác không chỉ tiếp cận lịch sử từ đời sống vật chất của xã hội, mà còn chú ý cả đời sống tinh thần. Theo đó, toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, … cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như: nhà nước, đảng phái, giáo hội, các tổ chức xã hội được hình thành trên nền tảng của những CSHT nhất định, hợp thành KTTT của xã hội. C. Mác nghiên cứu xã hội với tư cách là một chỉnh thể có cấu trúc là một HT KT- XH, đây là cơ sở quan trọng để cắt nghĩa lịch sử. Xã hội có đời sống vật chất tất yếu sẽ có đời sống tinh thần của con người. Khẳng định vai trò quyết định của sản xuất vật chất, nhưng chủ nghĩa Mác - Lênin chưa bao giờ xem nhẹ các nhân tố khác cũng tác động đến quá trình biến đổi xã hội như: môi trường tự nhiên; cơ cấu dân số; đặc trưng văn hoá, ... Quan điểm này biểu hiện trong việc học thuyết của chủ nghĩa Mác đã phân tích mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất; giữa kiến trúc tượng tầng với cơ sở hạ tầng; giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội. Và rằng lịch sử phát triển của xã hội loài người chẳng qua là lịch sử của những sự thay thế nối tiếp nhau của những phương thức sản xuất. Còn nguồn gốc thay đổi của phương thức sản xuất, sự mất đi của hình thái kinh tế - xã hội này và sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội khác chính là do mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất quyết định, và cuối cùng là các cuộc đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng xã hội. Trong đó lực lượng sản xuất yếu tố động, chịu sự quy định, thay đổi liên tục của công cụ lao động. Là yếu tố quan trọng nhất, quy định chất của phương thức sản xuất hay một Hình thái kinh tế - xã hội xác định trong lịch sử, lực lượng sản xuất trong giới hạn tồn tại của mình ở một phương thức sản xuất nhất định đã cho phép C. Mác đưa ra kết luận nổi tiếng: “sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự - nhiên”[2].
Ph. Ăngghen cũng khẳng định: "Trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ có xuất phát từ đó mới cắt nghĩa được lịch sử đó"[3]. C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ rõ từ những sự liên hệ, tác động lẫn nhau giữa những quan hệ kinh tế của xã hội tất yếu sẽ nảy sinh những quan hệ chính trị- tinh thần, từ quan hệ trong đời sống kinh tế có quan hệ về tinh thần, trong xã hội có giai cấp và nhà nước sẽ có quan hệ chính trị. Cho nên, khi nghiên cứu xã hội tất yếu phải nghiên cứu vấn đề chính trị.
Ở mỗi xã hội có trình độ và cơ sở kinh tế nhất định sẽ được xây dựng trên đó một KTTT tương ứng, giai cấp thống trị xã hội sẽ gán cho xã hội hệ tư tưởng của mình và tính chất giai cấp được thể hiện rất rõ ở sự đối lập về quan điểm tư tưởng và cuộc đấu tranh về chính trị - tư tưởng của giai cấp đối kháng. Giai cấp nào chiếm địa vị thống trị xã hội về kinh tế thì giai cấp đó cũng chiếm vị trí thống trị trong KTTT xã hội. Trong mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT thì CSHT với tính cách là cơ cấu kinh tế hiện thực của xã hội không chỉ sản sinh ra KTTT tương ứng, qui định tính chất của nó mà còn kéo theo sự thay đổi của KTTT. Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT không chỉ thực hiện trong giai đoạn chuyển tiếp có tính chất cách mạng từ xã hội này sang xã hội khác, mà còn được thực hiện ngay trong bản thân mỗi một HTKT- XH. C. Mác cho rằng: "Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái KTTT đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều, nhanh chóng"[4]. Theo C. Mác, sự biến đổi của CSHT dẫn đến sự biến đổi của KTTT là cả một quá trình diễn ra hết sức phức tạp. Nguyên nhân của quá trình đó xét đến cùng là do sự phát triển của LLSX. Tuy nhiên, sự phát triển của LLSX chỉ trực tiếp gây ra sự biến đổi của CSHT, còn sự biến đổi của CSHT - đến lượt nó mới làm cho KTTT biến đổi một cách căn bản.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử luôn nhấn mạnh tính độc lập tương đối của KTTT thể hiện ở chỗ KTTT có sự tác động trở lại đối với CSHT. Sự phụ thuộc của KTTT vào CSHT thường không trực tiếp và không đơn giản, cũng không phải là sản phẩm thụ động của CSHT, mà chúng có khả năng tác động đến CSHT một cách mạnh mẽ. Các bộ phận của KTTT cũng có tính độc lập tương đối cùng tác động đến CSHT, trong đó vai trò của nhà nước, đảng phái, hệ tư tưởng có vai trò đặc biệt quan trọng. Sự tác động trở lại của KTTT đến CSHT theo hai chiều hướng, nếu nó tác động cùng chiều, mang tính tích cực, nó sẽ làm cho CSHT vận động phát triển; ngược lại nếu nó tác động ngược chiều, sẽ là trở lực, gây tác hại cho sự phát triển của sản xuất, cản đường cho sự phát triển của xã hội. Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT thông qua chức năng xã hội cơ bản của nó là xây dựng, bảo vệ và phát triển CSHT hiện tại, chống lại những lực lượng cản trở, nguy cơ phá hoại sự tồn tại của chế độ kinh tế- xã hội đang tồn tại. Trong đó, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, chi phối, thậm chí trong những trường hợp nhất định nó quyết định khả năng tác động của các bộ phận khác của KTTT đến toàn bộ đời sống xã hội nói chung và CSHT nói riêng. Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng không tuyệt đối hoá vai trò của KTTT, của yếu tố chính trị đến sự phát triển của xã hội, mà trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau đó suy cho cùng vẫn là yếu tố kinh tế đóng vai trò quyết định. Ph.Ăngghen viết: "Theo quan điểm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực. Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế. Còn nếu ai đó xuyên tạc luận điểm này theo ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến lời khẳng định này thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa"[5].
V.I. Lênin tiếp tục phát triển học thuyết HTKT- XH khi nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa kinh tế và chính trị, pháp luật, văn hóa, từ đó khẳng định vai trò của đấu tranh giai cấp trong sự vận động và phát triển của các Hình thái kinh tế - xã hội. Sự thay thế từ HTKT- XH này sang HTKT- XH khác là kết quả của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, dẫn đến đấu tranh giai cấp, đỉnh cao là cách mạng xã hội, làm xuất hiện một Hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ hơn. V.I.Lênin đã chỉ rõ cơ sở khoa học của vấn đề này như sau: “Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”[6].
Kết hợp giữa nghiên cứu lý luận với đúc kết đời sống hiện thực, chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ rõ, lịch sử nhân loại đã trải qua 4 hình thái kinh tế - xã hội: công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và chủ nghĩa tư bản. Ở xã hội tư bản, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với đặc trưng là chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, sự thống trị và bóc lột trong quan hệ tổ chức và phân phối, biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản đại biểu cho lực lượng sản xuất mới, tiến bộ với giai cấp tư sản nắm luôn củng cố, bảo vệ quan hệ sản xuất đã lỗi thời, lạc hậu. Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản nhằm thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, xây dựng xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa là phù hợp với quy luật chung và đưa đến HTKT-XH Cộng sản chủ nghĩa.
Xét trên phương diện cả lý luận lẫn và thực tiễn, học thuyết HTKT-XH đã làm rõ những vấn đề về nguồn gốc, động lực, sự vận động khách quan của lịch sử xã hội loài người từ chính thực tiễn của đời sống xã hội, cung cấp cho giai cấp vô sản thế giới quan khoa học, chỉ ra quy luật vận động, phát triển tất yếu của xã hội loài người. Đồng thời, chỉ ra hình thức tổ chức, kết cấu về một Hình thái kinh tế xã hội trong tương lai mà loài người tất yếu sẽ hướng đến, cùng với đó là cách thức, con đường, biện pháp cách mạng thực hiện cho các chính đảng cộng sản, nhà nước vô sản trong hoạch định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Có thể khẳng định rằng, học thuyết HTKT-XH là một trong những nội dung hết sức quan trọng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, được xem là hòn đá tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin. C. Mác là người đầu tiên nêu lên và giải quyết một cách khoa học những vấn đề duy vật biện chứng về lịch sử, chỉ ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội thông qua hệ thống các quy luật khách quan của xã hội.
Khi nghiên cứu về sự ra đời, tồn tại và phát triển của lịch sử xã hội loài người có nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau. Chủ nghĩa duy tâm cho rằng, con người và xã hội loài người là sản phẩm của ý niệm tuyệt đối. Chủ nghĩa duy vật tầm thường quan niệm rằng, xã hội là một tổ hợp có tính chất máy móc; có thể tuỳ ý biến đổi theo mọi kiểu, một tổ hợp sinh ra và biến hoá một cách ngẫu nhiên. Alvin Toffer, nhà tương lai học người Mỹ tiếp cận lịch sử xã hội loài người bằng lý thuyết "ba làn sóng văn minh" hay còn gọi là "lý thuyết các nền văn minh". Theo đó xã hội loài người trải qua nền văn minh nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp. Alvin Toffer đã giải thích một cách phiến diện quá trình vận động phát triển của xã hội loài người khi mà ông đã tuyệt đối hoá yếu tố lực lượng sản xuất, không thấy được yếu tố quan hệ sản xuât và các quan hệ xã hội phong phú,phức tạp khác trong chính trị - xã hội, văn hóa, ... Chủ nghĩa duy vật lịch sử tiếp cận lịch sử bằng học thuyết HTKT- XH với tư cách là phương pháp khoa học và hoàn bị nhất, là một cuộc cách mạng trong nghiên cứu sự phát sinh, phát triển của xã hội loài người khi nghiên cứu lịch sử xã hội.
Chúng ta không phủ nhận rằng, Chủ nghĩa tư bản hiện nay đã điều chỉnh, thích nghi có hiệu quả, nhưng về nguyên tắc xem xét bản chất CNTB với tư cách là một HTKT - XH thì CNTB không thể thay đổi về chất. Bởi lẽ, CNTB tuy đã có những điều chỉnh nhưng không thể điều chỉnh một cách toàn diện và vượt quá mức độ cho phép. Trên thực tế, CNTB không thể cho công nhân vay vốn mua cổ phần đến mức vượt quá 51% giá trị tư bản của công ty, xí nghiệp hay toàn xã hội. Nếu như vượt quá mức 51% quyền sở hữu mang tính quyết định sẽ không thuộc nhà tư bản, điều đó giai cấp tư sản không bao giờ chấp nhận. Vì thay đổi về kinh tế tất yếu sẽ thay đổi về chính trị, khi đó quyền thống trị xã hội sẽ thuộc về giai cấp khác, điều mà CNTB không bao giờ từ bỏ.
Mặt khác, những loại cổ phần mà ông chủ tư bản nhượng, bán cho công nhân vay trên thực tế không có giá trị lớn trong nền kinh tế tư bản. Những loại cổ phần thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn, huyết mạch của nền kinh tế như: ngân hàng, hàng không, dầu mỏ, năng lượng, điện tử, viễn thông, … lượng cổ phiếu bán hoặc cho công nhân vay rất ít hoặc không có. Vì thế sức mạnh cổ phần của một bộ phận công nhân không đủ sức làm thay đổi tính chất, trật tự, bản chất của nền kinh tế tư bản và sự thống trị của giai cấp tư sản. Điều đó cho thấy CNTB mới chỉ đụng đến tư liệu tiêu dùng, tư liệu sinh hoạt và góc độ tâm lý, tình cảm chứ chưa điều chỉnh quyền sở hữu TLSX và cấp độ hệ tư tưởng. Cho nên chưa thể làm thay đổi tính chất xã hội của LLSX và địa vị của hai giai cấp cơ bản trong xã hội là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.
Sự thích nghi, điều chỉnh của CNTB chỉ có tác dụng điều hoà, làm dịu đi chứ không thể giải quyết mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản giữa LLSX và QHSX, giữa tư sản và vô sản. CNTB vẫn là nó, vẫn mang bản chất của giai cấp tư sản thống trị bóc lột. Cho nên, không thể nói cách tiếp cận của C. Mác không còn phù hợp với CNTB hiện đại chỉ vì sự điều chỉnh thích nghi tạm thời của nó. Mà phải khẳng định rằng, cách tiếp cận của C. Mác về lịch sử trên cả hai mặt LLSX và QHSX, đảm bảo tính khoa học và cách mạng, nghiên cứu lịch sử cả "điều kiện cần thứ nhất" và "điều kiện cần thứ hai" mới lý giải được sự phát triển của xã hội loài người, trở thành nguyên tắc bất di bất dịch khi nghiên cứu lịch sử xã hội.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã luận giải qui luật vận động của đời sống chính trị trên cơ sở đời sống kinh tế, tạo thành điều kiện đủ khi nghiên cứu, tiếp cận lịch sử xã hội. Đây là một phương pháp tiếp cận khoa học dựa trên tư duy biện chứng trong luận giải các vấn đề xã hội, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi mà CNTB vẫn đang tiếp tục điều chỉnh, sử dụng hàng loạt các biện pháp kinh tế gắn với mục đích chính trị. Thậm chí, có lúc, có nơi còn can thiệp trực tiếp về chính trị ở một số nước như: Nam Tư, Irăc, Palestin, Ucraina, trong quan hệ quốc tế thì thao túng Liên Hợp quốc và cộng đồng quốc tế, thực chất những hành vi đó đều là vấn đề chính trị xuất phát từ lợi ích kinh tế và mưu đồ chính trị của CNTB.
Trong xã hội có giai cấp, có nhà nước, còn tồn tại hệ tư tưởng của giai cấp này, hay giai cấp khác thì còn tồn tại đấu tranh giai cấp. Cần phải nghiên cứu vấn đề chính trị và chính trị là của giai cấp nhất định, không có thứ chính trị chung chung, trừu tượng, không thể có cái gọi là "CNTB nhân dân", mà chỉ có CNTB của giai cấp tư sản đối lập với CNXH của giai cấp vô sản.
Thế giới ngày nay đang đứng trước những vấn đề toàn cầu như khủng bố, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, thiên tai, bệnh tật, dân số già hóa, … đòi hỏi phải nghiên cứu, xem xét và giải quyết thông qua sự tương tác giữa đời sống kinh tế và đời sống chính trị ở từng quốc gia, dân tộc đang chịu ảnh hưởng, quan điểm của giai cấp cầm quyền ở mỗi quốc gia, … mới thấy được mối quan hệ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của chế độ xã hội đó. Nghĩa là nhìn nhận lịch sử xã hội phải nhìn một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Phương pháp tiếp cận lịch sử bằng HTKT- XH giúp chúng ta nhìn thấy động lực của lịch sử là do hoạt động thực tiễn của con người dưới tác động của các quy luật khách quan. Còn nếu tiếp cận lịch sử bằng "lý thuyết các nền văn minh" thì chỉ nhìn thấy một mặt, một yếu tố của xã hội, do đó không thể toàn diện và chính xác. Vì vậy, cách tiếp cận của Alvin Toffer đã phạm sai lầm căn bản khi chỉ coi trình độ phát triển của khoa học công nghệ, của LLSX là yếu tố quyết định duy nhất và trực tiếp đối với mọi sự thay đổi của xã hội, của đời sống con người, bỏ qua vai trò của QHSX, giai cấp, dân tộc, chế độ chính trị, những yếu tố có vai trò to lớn, có lúc, có thời điểm có vai trò quyết định đến sự tồn tại của một chế độ xã hội. "Lý thuyết các nền văn minh" đã cố ý bỏ qua vấn đề bản chất của một chế độ xã hội được qui định bởi QHSX đặc trưng, mà chỉ mô tả phiến diện một chiều, phi lịch sử về xã hội loài người, không chú ý đến động lực của sự vận động phát triển của xã hội là sự vận động tổng hợp các quy luật khách quan của xã hội. Thực chất là phủ nhận học thuyết HTKT- XH của chủ nghĩa Mác- Lênin, mục đích là nhằm "biện minh" cho sự tồn tại vĩnh viễn của CNTB.
Như vậy, tiếp cận lịch sử xã hội bằng HTKT- XH là một cuộc cách mạng trong nghiên cứu lịch sử xã hội, là sự khác nhau về bản chất so với cách tiếp cận xã hội bằng các học thuyết của các học giả tư sản, nhất là "lý thuyết các nền văn minh" của Alvin Toffer.
4.2. Nhận diện và đấu tranh phản bác một số quan điểm sai trái, xuyên tạc học thuyết Hình thái kinh tế - xã hội
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, các quan điểm xuyên tạc học thuyết Hình thái kinh tế - xã hội ngày càng tinh vi, đa dạng về hình thức, phức tạp về nội dung. Có thể nhận diện và phân loại một số dạng quan điểm sai trái phổ biến như sau:
Một là, quan điểm phủ nhận quy luật khách quan của lịch sử xã hội loài người.
Một trong những xuyên tạc phổ biến là quan niệm cho rằng, lịch sử không phát triển theo quy luật khách quan mà phụ thuộc vào "ý chí cá nhân", “văn hóa dân tộc” hay các yếu tố “phi vật chất” như đạo đức, tín ngưỡng. Rằng, sự phát triển của xã hội loài người là “đường thẳng không quy luật”, hoặc “mỗi dân tộc đi con đường riêng không thể so sánh”. Lịch sử không vận động theo quy luật; sự phát triển xã hội là ngẫu nhiên, không có quy luật phổ biến. Đây là sự phủ nhận bản chất duy vật lịch sử của học thuyết Mác – Lênin.
Mục đích sâu xa của luận điểm này là phủ nhận vai trò của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa cộng sản, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Qua đó, làm sói mòn và mất đi niềm tin vào tính tất yếu của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm lu mờ vai trò của đấu tranh giai cấp.
Học thuyết HTKT-XH đã khẳng định rằng, lịch sử nhân loại là một quá trình vận động, phát triển khách quan và có quy luật, trong đó mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là động lực thúc đẩy sự thay thế Hình thái kinh tế - xã hội cũ bằng hình thái mới tiến bộ hơn. Sự phát triển của xã hội loài người không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Mỗi phương thức sản xuất khi phát triển đến một giới hạn nhất định sẽ bị thay thế bởi một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn.
Thực tiễn lịch sử thế giới đã cho thấy xã hội loài người phát triển tuần tự từ HTKT -XH cộng sản nguyên thủy → chiếm hữu nô lệ → phong kiến → tư bản chủ nghĩa → cộng sản chủ nghĩa, là một quy luật khách quan. Các hình thái KT-XH phát triển và thay thế lẫn nhau dựa trên sự biến đổi lực lượng sản xuất và sự vận động của các mâu thuẫn nội tại. Sự sụp đổ của chế độ phong kiến và sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, cũng như sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội, giai đoạn đầu của Cộng sản chủ nghĩa, không phải là sự lựa chọn tùy ý, mà là kết quả tất yếu của việc giải quyết những mâu thuẫn không thể dung hòa trong lòng xã hội cũ.
Lịch sử cũng không phải do vài cá nhân lỗi lạc tạo ra mà là kết quả hoạt động thực tiễn của hàng triệu con người. Những biến cố lịch sử lớn như các cuộc cách mạng dân chủ, cách mạng vô sản, … đều là sản phẩm của những phong trào quần chúng rộng lớn. Những thành tựu, cũng như những cuộc khủng hoảng, khởi nghĩa, cách mạng trong lịch sử thế giới đều diễn ra phù hợp với những quy luật được học thuyết Mác – Lênin chỉ ra. Điều này khẳng định sức sống và giá trị bền vững của học thuyết HTKT-XH.
Như vậy, việc phủ nhận quy luật khách quan trong tiến trình lịch sử xã hội loài người là hoàn toàn phi lý, phản khoa học và đi ngược lại những bằng chứng lịch sử phong phú, sinh động mà học thuyết HTKT-XH đã chứng minh.
Hai là, quan điểm cho rằng, học thuyết HTKT-XH đã lỗi thời.
Có quan điểm cho rằng, trong thời đại trí tuệ nhân tạo, cách mạng công nghệ 4.0, kinh tế số, ... thì các tư tưởng của Mác – Lênin về lực lượng sản xuất, đấu tranh giai cấp, sở hữu tư liệu sản xuất không còn phù hợp. Thậm chí có quan điểm cho rằng, C. Mác không dự đoán được vai trò của công nghệ và thị trường, do đó học thuyết của ông không còn giá trị. Thế giới ngày nay đã thay đổi, học thuyết HTKT-XH không còn phù hợp. Quan điểm này cố tình đánh đồng sự biến đổi của Hình thái kinh tế trong chủ nghĩa tư bản hiện đại với việc phủ nhận quy luật cơ bản về mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong học thuyết HTKT -XH.
Mục đích của quan điểm này thực chất là nhằm tạo cớ để xét lại và từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, mở đường cho tư tưởng cơ hội, xét lại và thực dụng chính trị.
Thực tiễn đã chứng minh, học thuyết HTKT-XH không hề lỗi thời mà luôn vận động, phát triển. C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin không đưa ra một mô hình cứng nhắc mà cung cấp một phương pháp luận khoa học để phân tích và cải tạo xã hội. Do đó, đến nay, học thuyết HTKT-XH vẫn đang được vận dụng và phát triển sáng tạo ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, góp phần định hướng và soi đường cho công cuộc đổi mới đất nước.
Lịch sử nhân loại đã chứng minh rõ ràng quy luật thay thế Hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao. Các cuộc cách mạng tư sản như Cách mạng tư sản Anh (1640), Cách mạng tư sản Pháp (1789) và Cách mạng Công nghiệp là các cột mốc cho thấy sự chuyển hóa mạnh mẽ của xã hội khi lực lượng sản xuất phát triển và mâu thuẫn với quan hệ sản xuất cũ.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là một bước ngoặt trong lịch sử nhân loại, chứng minh tính tất yếu của cách mạng vô sản khi mâu thuẫn giai cấp đạt đến đỉnh điểm. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã soi đường cho thắng lợi của cách mạng này, đồng thời tạo nền tảng lý luận cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Ở Trung Quốc, học thuyết Mác – Lênin được Đảng Cộng sản Trung Quốc vận dụng linh hoạt để phát triển mô hình “chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc”. Từ một quốc gia nghèo đói, Trung Quốc đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trong Báo cáo Đại hội XIX, Tổng Bí thư Tập Cận Bình khẳng định: "Chủ nghĩa Mác là ngọn đèn soi đường dẫn dắt nhân dân tiến bước." Điều này cho thấy, việc kế thừa và phát triển học thuyết Mác không làm mất đi tính hiện đại, mà trái lại còn tạo ra động lực mới cho sự phát triển bền vững.
Các nước Bắc Âu như Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, … dù không theo mô hình xã hội chủ nghĩa chính thức nhưng lại áp dụng nhiều nguyên lý của học thuyết Mác – Lênin trong xây dựng nhà nước phúc lợi. Các chính sách phân phối lại thu nhập, chăm lo sức khỏe cộng đồng và giáo dục miễn phí đã giúp các quốc gia này đạt mức sống cao và bình đẳng xã hội đáng kể. Điều này một lần nữa chứng minh tính nhân văn và tiến bộ của Chủ nghĩa Mác – Lênin.
Mặt khác, tuy hình thức tổ chức kinh tế – xã hội hiện nay thay đổi nhanh chóng, nhưng bản chất của mối quan hệ sản xuất vẫn chịu sự chi phối bởi quan hệ giữa người lao động – tư liệu sản xuất – sản phẩm lao động. Thực tiễn cho thấy, trong các tập đoàn công nghệ lớn như Amazon, Google… người lao động vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư thông qua các hình thức làm việc linh hoạt, hợp đồng ngắn hạn, và giám sát bằng công nghệ. Phong trào phản kháng của giới công nghệ (Tech Unions) tại Mỹ cũng cho thấy, mâu thuẫn giai cấp vẫn tồn tại, dù được che đậy dưới lớp vỏ công nghệ. Chủ nghĩa tư bản hiện đại không làm mất đi mâu thuẫn cơ bản giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mà chỉ làm nó trở nên tinh vi hơn.
Nhiều học giả phương Tây, vẫn công nhận giá trị của học thuyết HTKT -XH trong phân tích xã hội hiện đại. Nhà xã hội học nổi tiếng Immanuel Wallerstein – cha đẻ của “lý thuyết hệ thống thế giới” đã vận dụng các khái niệm của C. Mác để lý giải sự phân hóa giữa trung tâm và ngoại vi trong hệ thống kinh tế toàn cầu. Theo ông, chủ nghĩa tư bản toàn cầu vận hành dựa trên sự bóc lột không chỉ giữa các giai cấp mà còn giữa các quốc gia. Slavoj Žižek, trong nhiều bài viết và bài giảng, nhấn mạnh rằng, chủ nghĩa tư bản hiện đại với các cuộc khủng hoảng tài chính lặp đi lặp lại, bất bình đẳng gia tăng và khủng hoảng khí hậu là minh chứng cho sự "trở lại của Mác" trong diễn ngôn học thuật và chính trị. Ông từng khẳng định: Chúng ta cần C. Mác hơn bao giờ hết để hiểu thế giới mà chúng ta đang sống. Ngay cả các học giả kinh tế như Thomas Piketty cũng chỉ ra sự gia tăng bất bình đẳng tài sản là nguy cơ lớn đối với dân chủ và phát triển bền vững, đồng thời đề xuất các biện pháp tái phân phối – điều đã được C. Mác và V.I. Lênin đề cập từ thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX.
Ba là, đồng nhất sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu với sự sụp đổ của mô hình CNXH.
Nhiều luận điểm cho rằng, sự tan rã của Liên Xô và các nước trong hệ thống XHCN ở Đông Âu là minh chứng rõ ràng cho sự thất bại không thể cứu vãn của học thuyết Mác – Lênin. Họ viện dẫn các bất ổn kinh tế, sự tập trung quyền lực quá mức và mất dân chủ tại một số quốc gia XHCN cũ để quy chụp rằng toàn bộ lý luận Mác – Lênin là sai lầm ngay từ nền tảng. Các quan điểm này đánh tráo giữa lý luận và thực tiễn vận dụng, bỏ qua những sai lầm mang tính chủ quan trong quá trình thực thi mô hình XHCN tại một số quốc gia. Có ý kiến cho rằng Hình thái kinh tế - xã hội theo quan điểm Mác – Lênin là máy móc, áp đặt, không phản ánh sự đa dạng của các mô hình phát triển. Một trong những luận điệu sai trái phổ biến hiện nay là xuyên tạc thực tiễn chủ nghĩa xã hội hiện thực, đồng nhất sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu với "sự thất bại tất yếu" của học thuyết Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội nói chung. Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử cần được nhìn nhận một cách biện chứng và khách quan.
Thứ nhất, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu không phải là sự phá sản của lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Đó là kết quả của nhiều nguyên nhân phức tạp, trong đó có những sai lầm về chính sách kinh tế, tư duy bảo thủ trong cải cách chính trị, yếu kém trong quản lý và sự suy thoái tư tưởng trong đội ngũ lãnh đạo, chứ không phải do bản chất của chủ nghĩa xã hội hay học thuyết Mác – Lênin.
Thứ hai, sai lầm lịch sử của một chính đảng không phủ định giá trị phổ quát của học thuyết Mác – Lênin.
Sai lầm trong thực tiễn áp dụng không thể làm mất đi tính đúng đắn của lý luận khoa học. Cũng như thất bại của những mô hình tư bản chủ nghĩa trong lịch sử (khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, bất công) không thể làm phủ nhận hoàn toàn chủ nghĩa tư bản, thì một số thất bại trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng không thể phủ định học thuyết Mác – Lênin.
Thứ ba, phong trào cách mạng thế giới vẫn tiếp tục phát triển và đạt được một số thành tựu to lớn. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, và các nước XHCN ở Đông Âu, nhiều nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba... đã tiếp tục cải cách và phát triển thành công. Các quốc gia này vận dụng linh hoạt nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp với điều kiện thực tiễn để xây dựng mô hình phù hợp, chứng minh sức sống mạnh mẽ của lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư, bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội vẫn được khẳng định trên hiện thực. Thực tiễn đã chứng minh, mặc dù có những thành tựu nhất định, nhưng CNTB vẫn tồn tại nhiều mâu thuẫn gay gắt như: bóc lột lao động, bất công xã hội, khủng hoảng kinh tế, ô nhiễm môi trường, … Trong khi đó, chủ nghĩa xã hội lại khắc phục những hạn chế ấy bằng mục tiêu phát triển vì con người, công bằng xã hội, giải phóng sức lao động. Nhiều giá trị xã hội như công bằng, bình đẳng, phúc lợi xã hội, quyền con người - vốn là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội - đang trở thành mục tiêu phấn đấu chung của nhân loại tiến bộ.
Học thuyết HTKT-XH chưa bao giờ phủ nhận sự phong phú, đa dạng trong con đường phát triển của các dân tộc. Mặc dù nhấn mạnh quy luật chung, nhưng không phủ nhận tính đặc thù. Học thuyết HTKT-XH đưa ra lý luận mang tính khái quát về quy luật phổ biến, chứ không áp đặt mô hình cụ thể cho mọi quốc gia. Việc vận dụng lý luận đó vào thực tiễn đòi hỏi phải gắn với đặc điểm lịch sử – dân tộc – văn hóa của từng quốc gia. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã vận dụng linh hoạt lý luận này vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, sáng tạo ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện đất nước: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó cho thấy tính chất mở và sáng tạo của học thuyết HTKT-XH. Ngoài ra, một trường hợp khác là Trung Quốc xây dựng mô hình "xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc" với đặc trưng riêng về quản trị, kinh tế. Điều đó cho thấy học thuyết HTKT-XH không cứng nhắc, mà luôn có tính chất mở và linh hoạt trong ứng dụng, vận dụng của mỗi quốc gia, dân tộc.
Ở Việt Nam, từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986, đã chứng minh tính đúng đắn và sự linh hoạt của việc vận dụng học thuyết HTKT-XH vào thực tiễn phát triển đất nước. Việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một bước đi mang tính cách mạng, phản ánh sự điều chỉnh QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX. Nhờ sự vận dụng linh hoạt đó, nền kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng, đặc biệt trong giai đoạn từ đầu những năm 2000 đến nay. Theo Tổng cục Thống kê, GDP của Việt Nam liên tục tăng trưởng trung bình 6–7% mỗi năm, thu nhập bình quân đầu người được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ hơn 58% năm 1993 xuống còn dưới 5% năm 2023. Riêng năm 2024, tốc độ tăng GDP quý IV ước đạt 7,55%, cả năm tăng trưởng GDP 7,09% so với năm 2023, cao hơn mục tiêu Quốc hội đề ra, nâng quy mô nền kinh tế đạt khoảng 476,3 tỷ đô la Mỹ (USD), đứng thứ 33 thế giới; thu nhập bình quân đầu người đạt 4.700 USD.[7] Điều này cho thấy sự điều chỉnh chiến lược phát triển phù hợp với quy luật của hình thái kinh tế - xã hội đã phát huy hiệu quả tích cực. Đặc biệt, hệ thống chính sách xã hội như y tế, giáo dục, bảo hiểm và các chương trình xóa đói giảm nghèo không chỉ góp phần cải thiện đời sống nhân dân mà còn thể hiện rõ nét vai trò của kiến trúc thượng tầng trong việc định hướng và hỗ trợ cơ sở hạ tầng phát triển, đúng như học thuyết HTKT-XH đã chỉ ra. Sự phát triển này đồng thời củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện rõ nét trong việc dẫn dắt xã hội phát triển ổn định và tiến bộ.
Vì vậy, việc đồng nhất những sai lầm lịch sử cụ thể với bản thân lý tưởng xã hội chủ nghĩa và học thuyết HTKT-XH là một sự ngụy biện phi lịch sử, thiếu căn cứ khoa học.
5. Kết luận
Trong quá trình phát triển lịch sử xã hội loài người, sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quy luật khách quan không thể đảo ngược. Học thuyết HTKT-XH đã đưa ra cách tiếp cận khoa học, duy vật và biện chứng để lý giải sự tiến hóa lịch sử của xã hội loài người. Thực tiễn đã chứng minh, học thuyết HTKT-XH là một thành tựu vĩ đại của tư tưởng nhân loại.
Trong bối cảnh hiện nay, việc đấu tranh với các quan điểm sai trái nhằm xuyên tạc, phủ nhận học thuyết HTKT – XH không chỉ là nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu lý luận, mà còn là trách nhiệm của toàn thể hệ thống chính trị. Cần tiếp tục phát triển và vận dụng học thuyết một cách linh hoạt, sáng tạo để góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hiện thực hóa lý tưởng XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
6. Tài liệu tham khảo
1. C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 4,13,21,23,37, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
2. V. Lênin, Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.
3. Truy cập: https://thuvienphapluat.vn/chinh-sach-phap-luat-moi/vn/ho-tro-phap-luat/tai-chinh/78773/gdp-viet-nam-nam-2024-dat-476-3-ty-usd-dung-thu-33-the-gioi. (Ngày 26/4/2025).
[1] C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.1987.
[2] C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.21.
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.523.
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.15.
[5] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 37, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 641.
[6] V.Lênin, Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.163.
[7] Truy cập: https://thuvienphapluat.vn/chinh-sach-phap-luat-moi/vn/ho-tro-phap-luat/tai-chinh/78773/gdp-viet-nam-nam-2024-dat-476-3-ty-usd-dung-thu-33-the-gioi. (Ngày 26/4/2025).
Nguyễn Thu Trang - CQ59.08.02