Theo Tổng cục Du lịch, mỗi năm toàn ngành cần thêm gần 40.000 lao động, thế nhưng lượng sinh viên chuyên ngành ra trường mỗi năm chỉ có khoảng 15.000 người, trong đó chỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Điều đáng nói là dù được đào tạo chính quy ở các cơ sở đào tạo nhưng khi được tuyển dụng vào làm việc, hầu hết doanh nghiệp đều phải đào tạo lại hoặc đào tạo bổ sung về kỹ năng, ngoại ngữ… gây lãng phí rất lớn cho xã hội.
Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố sống còn của ngành du lịch Việt Nam và đang là vấn đề cấp bách trong bối cảnh hiện nay, bởi nhu cầu sử dụng nhân lực du lịch đang phát triển như vũ bão. Thế nhưng, trên thực tế hiện nay các cơ sở đào tạo không đáp ứng được cả về số lượng lẫn chất lượng.
Theo Tổng cục Du lịch (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch), mỗi năm toàn ngành cần thêm gần 40.000 lao động. Tuy nhiên, lượng sinh viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng 15.000 người/năm, trong đó chỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên.
 |
| Hướng dẫn viên đang hướng dẫn cho du khách thăm quan khu du lịch. Ảnh: Internet |
Báo cáo của Viện Nghiên cứu phát triển du lịch (ITDR) cho thấy, với tốc độ tăng trưởng là 6,2%/năm trong giai đoạn 2011-2015, đến hết năm 2015, nhu cầu nhân lực làm việc trực tiếp (hướng dẫn viên du lịch, lễ tân…) trong ngành ước tính cần 620.000 người và đến năm 2020 nhu cầu nhân lực của ngành du lịch tăng lên khoảng 870.000 lao động trực tiếp với tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn 2016-2020 là 7,0%/năm.
Hiện nay, cả nước có hơn 190 cơ sở đào tạo du lịch và tham gia giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp du lịch ở trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp, sơ cấp và đào tạo ngắn hạn, gồm: 65 trường đại học có các khoa du lịch; 55 trường cao đẳng (có 10 trường cao đẳng chuyên đào tạo du lịch trong đó có 8 trường trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); 71 trường trung cấp.
Theo GS.TS. Đào Mạnh Hùng-Chủ tịch Hiệp hội Đào tạo du lịch Việt Nam, thực trạng chất lượng nguồn nhân lực du lịch hiện nay ở Việt Nam tỷ lệ lao động có chuyên môn, nghiệp vụ về du lịch còn thấp, chỉ chiếm khoảng 43% tổng số lao động du lịch. Số lao động chưa tốt nghiệp phổ thông trung học chiếm 30% trong tổng số lao động và hơn ½ lao động làm việc trong khu du lịch không biết ngoại ngữ. Năng suất lao động Du lịch ở Việt Nam bằng 1/15 Singapore, 1/11 Nhật Bản, 1/5 Malaysia, 2/5 Thái Lan. “Có thể thấy, cái thiếu của Việt Nam không phải là nhân lực phổ thông mà là nhân lực chất lượng cao”-GS.TS.Đào Mạnh Hùng nhấn mạnh.
Hiện tại, cả nước mới có trên 1,3 triệu lao động du lịch, chiếm khoảng 2,5% tổng lao động cả nước. Trong đó chỉ có 42% được đào tạo về du lịch, 38% được đào tạo từ ngành khác chuyển sang và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy mà chỉ được huấn luyện tại chỗ. Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch thế giới, năm 2017, Việt Nam đứng trong top 20 điểm đến du lịch phát triển nhanh nhất thế giới. Đến năm 2025, ngành du lịch dự kiến đóng góp trên 10% GDP và mang lại thu nhập cho 6 triệu lao động. Để đạt mục tiêu này ngành du lịch cần hơn 40.000 lao động có tay nghề và chuyên môn.
“So với các nước trong khu vực, thì chất lượng dịch vụ du lịch Việt Nam nói chung và tại các trung tâm du lịch lớn vẫn còn hạn chế. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng đó là do nhân lực du lịch của chúng ta hiện nay vừa thiếu về số lượng lại vừa yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, do đó dẫn đên chất lượng phục vụ du lịch của nước ta còn thấp”-GS.TS. Đào Mạnh Hùng chỉ rõ.
Theo ông Nguyễn Quốc Kỳ - Chủ tịch HĐQT Công ty Vietravel - một trong những nút thắt cần được mở khóa đề ngành du lịch cất cánh chính là chất lượng nguồn nhân lực. Ông Kỳ cho biết, sinh viên ra trường được doanh nghiệp ông tuyển vào phải qua đào tạo lại 6 tháng mới làm được việc, và để lành nghề thì phải mất một năm. Để tránh gây lãng phí lớn nguồn lực, ông Kỳ cho rằng cần phải quy chuẩn lại khung đào tạo từ cao đến thấp, trước tiên nên rà soát các chương trình đào tạo từ cấp đại học trở xuống theo yêu cầu và dần chuyển đổi, cải tiến để đầu ra đủ sức cạnh tranh trong môi trường nhân lực quốc tế. So với yêu cầu của thị trường và thực tế đào tạo hiện nay, các chương trình cần đi sâu vào kỹ năng ngoại ngữ, định hướng đào tạo hướng vào ba cấp chính gồm quản lý, cấp doanh nghiệp và cấp tiếp xúc trực tiếp với khách hàng.
Ông Bùi Tá Hoàng Vũ - Giám đốc Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh - nhận định, ngành du lịch đang rất “khát” nhân lực lành nghề, chất lượng cao. Là địa phương chiếm tới 70% lượng khách quốc tế đến Việt Nam (số liệu năm 2018) nhưng nhân lực ngành du lịch thành phố có sự lệch pha mạnh giữa cung - cầu. “Tại TP. Hồ Chí Minh có đến 63 đơn vị đào tạo các ngành nghề về du lịch, trong đó trường 18 đại học có đào tạo ngành du lịch, 21 cao đẳng/cao đẳng nghề và 24 trung cấp nghề/trung học chuyên nghiệp, thế nhưng số sinh viên, học viên tốt nghiệp vẫn chỉ đáp ứng được khoảng 60% so với nhu cầu. Đó là chưa tính đến nguồn nhân lực ở các vị trí lao động gián tiếp, đặc biệt ở các vị trí quản lý”, ông Vũ cho hay.
Cần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch.
Các cơ sở đào tạo không thể vẫn sử dụng phương pháp cũ, thiếu tính tương tác, thiếu thực tiễn của mô hình sản xuất mới để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển và ứng dụng nhanh chóng của công nghệ hiện đại từ cuộc CMCN 4.0. Điều này sẽ dẫn đến nguy cơ tụt hậu và đào thải rất cao. Hệ thống đào tạo cả nước cần sớm đổi mới nội dung và chương trình đào tạo nhằm đáp ứng trước những thay đổi từ thực tiễn. Ví dụ, trong lĩnh vực du lịch, một số nội dung cần được các trường nghiên cứu, bổ sung như: giảm thời gian lý thuyết, tăng thời gian thực hành, nâng cao cơ sở vật chất đào tạo.
Để tạo ra sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh cao thì chất lượng của nguồn nhân lực du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng. Chỉ có chiến lược phát triển nguồn nhân lực được quan tâm đúng mức và hợp lý mới duy trì được thương hiệu và chất lượng phục vụ trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đặc biệt trong bối cảnh thỏa thuận tiêu chuẩn kỹ năng nghề Du lịch cho phép dịch chuyển lao động trong ngành du lịch thuộc khối ASEAN. Một người lao động tại Việt Nam có thể làm việc tại các nước thành viên ASEAN, trong khi đó, Việt Nam cũng có thể thu hút các lao động có trình độ để đáp ứng được các vị trí đồi hỏi trình độ cao đang bị thiếu hụt nhân lực.
Vì vậy, trước tiên cần phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo, bồi dưỡng về du lịch đảm bảo liên kết chặt chẽ và cân đối giữa các bậc đào tạo, ngành nghề đào tạo. Chú trọng mở rộng đào tạo trình độ đại học và sau đại học tại các cơ sở du lịch hiện có. Mặt khác mở rộng phát triển giáo dục nghề nghiệp du lịch. Đầu tư mọi mặt cho các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp du lịch. Có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp liên kết với nhà trường mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ, tại các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp du lịch, công lập, ngoài công lập và các cơ sở có vốn đầu tư của nước ngoài.
Việt Lâm (T/H)