Chặn sở hữu chéo và thao túng ngân hàng, vấn đề nan giải của chính hệ thống ngân hàng đã tồn tại từ lâu nay, mặc dù nhiều biện pháp đã được áp dụng song hành vi sở hữu chéo ngày càng trở nên tinh vi và khó đối phó.
Việc xử lý vấn đề sở hữu vượt giới hạn quy định, sở hữu chéo vẫn khó khăn trong trường hợp cổ đông lớn và người liên quan cố tình che dấu, nhờ cá nhân, tổ chức khác đứng tên hộ số cổ phần sở hữu để lách quy định của pháp luật vẫn còn nhiều khó khăn, điều này dẫn đến ngân hàng thương mại có thể bị chi phối bởi các cổ đông này, tiềm ẩn nguy cơ hoạt động thiếu công khai, minh bạch.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng nêu: “Việc phát hiện mối liên quan giữa các doanh nghiệp còn hạn chế do thông tin để xác định tính liên quan về sở hữu của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp không phải là công ty đại chúng rất khó khăn. Ngân hàng Nhà nước không chủ động được trong việc tra cứu thông tin, xác định được độ chính xác, tin cậy của các nguồn thông tin; đặc biệt trong bối cảnh thị trường chứng khoán, công nghệ phát triển nhanh như hiện nay”.
Theo đó, việc tạo ra chốt chặn để ngăn sở hữu chéo và thao túng ngân hàng của cổ đông lớn và nhóm cổ đông lớn là một trong những mục tiêu quan trọng của Luật Các tổ chức tín dụng 2024 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2024. Đáng chú ý với hàng loạt quy định mới được bổ sung, đưa ra nhiều nhóm giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn sở hữu chéo ngân hàng như các quy định về quản trị, điều hành, kiểm soát,…được xem là các “chốt chặn” góp phần minh bạch hệ thống ngân hàng trong thời gian tới.
"Chốt chặn" được áp dụng sẽ giúp tăng tính công khai, minh bạch
Trước tiên là “chốt chặn” về sở hữu, Luật Các tổ chức tín dụng 2024 siết chặt quy định về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ tối đa của một cổ đông và một nhóm cổ đông liên quan. Cụ thể, một tổ chức không được sở hữu vượt quá 10% trong khi tỷ lệ theo quy định hiện là 15%; một nhóm cổ đông liên quan không được sở hữu vượt quá 15% khi tỷ lệ quy định hiện tại đang là 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng. Đặc biệt là quy định về người có liên quan, đặc biệt với bên có liên quan là cá nhân cũng được làm rõ và mở rộng hơn đáng kể so với quy định hiện hành.
Tiếp đến là “chốt chặn” siết hạn mức cấp tín dụng cho khách hàng lớn, thay đổi này có thể giúp các ngân hàng giảm rủi ro tập trung tín dụng, cũng như việc ngân hàng “tuồn” vốn cho doanh nghiệp sân sau. Theo đó, giới hạn cấp tín dụng cho một và một nhóm khách hàng được điều chỉnh giảm dần, từ mức 15% với một khách hàng và 25% với một nhóm khách hàng liên quan vốn tự có của tổ chức tín dụng hiện nay giảm xuống 10% và 15% vào năm 2029. Với tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tỷ lệ này giảm từ 25% và 50% vốn tự có hiện nay, xuống 15% và 25% đến năm 2029.
Đáng chú ý là việc bổ sung các quy định nâng cao chuẩn quản trị điều hành cũng như hạn chế việc tham gia quản trị điều hành của những người có liên quan tại tổ chức tín dụng. “Chốt chặn” này được bổ sung nhằm tăng tính công khai, minh bạch. Đây là vấn đề được nhiều đại biểu xem là cốt lõi của hệ thống ngân hàng. Để chống sở hữu chéo, thao túng, chi phối trong hệ thống ngân hàng thì yếu tố hàng đầu là phải xác định được cá nhân hoặc tổ chức nào là chủ sở hữu thực sự của ngân hàng, nắm quyền chi phối, ảnh hưởng đến việc ra quyết định trong hoạt động của ngân hàng.
Qua đó, các cá nhân giữ chức vụ quan trọng trong tổ chức tín dụng như: Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc,… phải cung cấp thông tin về người và doanh nghiệp có liên quan; tổ chức tín dụng sẽ báo cáo Ngân hàng Nhà nước, đại hội đồng cổ đông, đại hội thành viên, hội đồng thành viên... Tương tự, các cổ đông nắm giữ trên 1% vốn điều lệ trở lên cũng cần cung cấp thông tin (bao gồm cả tỷ lệ sở hữu cổ phần) của mình cũng như của cá nhân, tổ chức có liên quan. Ngoài ra, danh sách các cổ đông sở hữu trên 1% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng cũng được công bố công khai.
Như vậy các “chốt chặn” trên được kỳ vọng làm tăng tính minh bạch và giám sát đại chúng đối với các tổ chức tín dụng trong đó kể cả các tổ chức tín dụng chưa niêm yết, góp phần làm giảm tình trạng thao túng, sở hữu chéo ngân hàng, đồng thời tạo thêm kênh giám sát, trong đó có cả phương tiện thông tin truyền thông. Về lâu dài, các quy định ngăn chặn sở hữu chéo sẽ giúp tăng tính minh bạch, giảm sự chi phối của các nhóm lợi ích, giảm xung đột lợi ích khi cấp tín dụng, tăng tính an toàn cho hệ thống ngân hàng. Nói cách khác, các quy định này sẽ giúp hoạt động của hệ thống ngân hàng bền vững hơn trong tương lai.
Bên cạnh đó, Luật hiện hành quy định áp dụng can thiệp sớm khi tổ chức tín dụng không duy trì được tỷ lệ khả năng chi trả 3 tháng liên tục, không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn 6 tháng liên tục, xếp hạng dưới mức trung bình. Về các biện pháp áp dụng khi can thiệp sớm trong "phương án khắc phục" chỉ bao gồm các biện pháp tự khắc phục của phía tổ chức tín dụng, như thu hẹp hoạt động, tăng vốn điều lệ, hạn chế giao dịch, cắt giảm chi phí, tăng cường quản trị... Đồng thời, ngân hàng Nhà nước chấm dứt can thiệp sớm khi tổ chức tín dụng khắc phục được, hoặc tổ chức tín dụng được đặt vào kiểm soát đặc biệt.
Nhưng trên thực tế, một trong những yếu tố chính dẫn tới tình trạng thao túng ngân hàng thời gian qua chính là hành vi lách luật đến từ các cá nhân tổ chức có vai trò chi phối ngân hàng và doanh nghiệp. Do đó, việc siết giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần, giảm giới hạn cấp tín dụng… sẽ không có nhiều ý nghĩa trong chống sở hữu chéo, chống sở hữu thao túng. Chính vì vậy, ngoài việc bổ sung các quy định theo hướng thắt chặt và minh bạch hơn, nỗ lực chống sở hữu chéo chỉ phát huy hiệu quả, hiệu lực thực sự nếu khâu thực hiện và giám sát được triển khai bài bản. Theo đó, không chỉ cơ quan quản lý nhà nước, mà chính ban kiểm soát tại các tổ chức tín dụng cũng phải làm tốt vai trò giám sát tại chỗ của mình.
Bên cạnh đó, việc tạo lập các “chốt chặn” giúp siết chặt sở hữu chéo và thao túng ngân hàng cũng tạo ra những khó khăn mà cụ thể là việc một số doanh nghiệp lớn sẽ khó vay nhiều vốn ở một tổ chức tín dụng và đây là điều cần thiết để ngân hàng tránh tập trung tín dụng. Với quy định trên, bản thân doanh nghiệp cũng phải nắm bắt các nội dung mới để có sự chuẩn bị, tránh phụ thuộc vào một vài ngân hàng. Đặc biệt, các doanh nghiệp phải xác định ngân hàng chỉ là kênh cung cấp vốn ngắn hạn, từ đó có giải pháp để đa dạng kênh huy động vốn.
Luật Các Tổ chức tín dụng mới sẽ khắt khe hơn việc sử dụng hệ sinh thái doanh nghiệp để “bắt cóc” tiền từ ngân hàng, điều nay mang lại lợi ích cho cả nền kinh tế, phản ánh đúng thực trạng nền kinh tế hơn là phụ thuộc cổ đông lớn của ngân hàng. Đồng thời, về phía Ngân hàng Nhà nước cũng tăng cường công tác thanh tra, giám sát an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng và qua công tác thanh tra về vốn, tình hình sở hữu cổ phần của tổ chức tín dụng, hoạt động cho vay, đầu tư, góp vốn...
Trường hợp phát hiện rủi ro, vi phạm sẽ chỉ đạo tổ chức tín dụng xử lý các tồn tại nhằm ngăn ngừa rủi ro. Đặc biệt, với các trường hợp phát hiện có dấu hiệu của tội phạm, Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét chuyển cơ quan công an điều tra, làm rõ hành vi vi phạm pháp luật (nếu có) để xử lý nhằm ngăn ngừa rủi ro./.
Hải Bình