Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, bốn Nghị quyết Trung ương (Nghị quyết số 66; số 57; số 59; số 68) được ban hành có ý nghĩa chiến lược không chỉ đặt ra mục tiêu và tầm nhìn cụ thể mà còn xác lập chuỗi logic phát triển quốc gia: Thể chế là nền tảng - công nghệ là động lực - kinh tế tư nhân là chủ thể - hội nhập mở rộng không gian phát triển.
Nền tảng thể chế: “Đột phá của đột phá”
Ngày 30/4/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển bứt phá, giàu mạnh, hùng cường dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với việc thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, phấn đấu tăng trưởng kinh tế “hai con số”, công tác xây dựng và thi hành pháp luật phải được đổi mới căn bản, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân (Ảnh: VGP)
Nghị quyết số 66-NQ/TW khẳng định công tác pháp luật chính là “đột phá của đột phá” trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điểm cốt lõi là thiết lập một hệ thống pháp luật minh bạch, khả thi, đồng bộ, vừa xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, vừa chọn lọc tinh hoa quốc tế.
Nghị quyết đặt ra mốc đến năm 2028 phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư – kinh doanh, đưa môi trường đầu tư Việt Nam vào nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN. Đồng thời, nâng cao văn hóa tuân thủ, lấy thượng tôn Hiến pháp và pháp luật làm chuẩn mực. Với giá trị cốt lõi là biến pháp luật thành nền tảng cạnh tranh, một “đường cao tốc thể chế” giúp khai thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, bền vững và bảo đảm an ninh, quốc phòng.
Khoa học – công nghệ và chuyển đổi số: Động lực nội sinh
Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, lần đầu tiên đặt khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở vị trí đột phá hàng đầu.
Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm ba nước dẫn đầu Đông Nam Á về năng lực số, chính phủ điện tử và trí tuệ nhân tạo; đến năm 2045, kinh tế số chiếm ít nhất 50% GDP. Đặc biệt, nghị quyết chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học – coi thất bại là một phần tất yếu của sáng tạo, khuyến khích các nhà khoa học dấn thân.
Điểm nhấn quan trọng là cơ chế đầu tư: đến năm 2030, chi cho R&D đạt 2% GDP, trong đó 60% đến từ khu vực tư nhân. Ngân sách nhà nước dành ít nhất 3% chi thường niên cho khoa học – công nghệ và chuyển đổi số, thông qua mô hình quỹ linh hoạt.
Cốt lõi của nghị quyết chính là xây dựng động lực nội sinh, đưa công nghệ và sáng tạo thành “động cơ phát triển”, tái cấu trúc nền kinh tế và nâng cao năng suất lao động.
Kinh tế tư nhân – động lực quan trọng nhất của nền kinh tế
Nghị quyết 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân – bước tiến về nhận thức và tư duy so với trước đây.
Với mục tiêu đặt ra đầy tham vọng, đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp, đóng góp 58% GDP, chiếm 40% thu ngân sách và tạo việc làm cho 85% lực lượng lao động; đến năm 2045 đạt 3 triệu doanh nghiệp, trong đó ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Thủ tướng Chính phủ - Phạm Minh Chính (Ảnh: Công Lý)
Nghị quyết nhấn mạnh chuyển đổi mô hình quản lý từ “xin cho” sang “phục vụ”, từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tạo môi trường tự do kinh doanh minh bạch. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh bằng cơ chế ưu đãi thuế, tín dụng, chuyển đổi số, kết nối chuỗi giá trị.
Giải phóng sức sáng tạo của khu vực tư nhân, coi doanh nghiệp không còn là đối tượng điều tiết, mà là đối tác chiến lược đồng hành cùng Nhà nước trong phát triển quốc gia.
Hội nhập quốc tế – mở rộng không gian phát triển
Nghị quyết số 59-NQ/TW khẳng định hội nhập quốc tế là động lực chiến lược để phát triển đất nước trong tình hình mới. Hội nhập không chỉ là mở cửa thị trường, mà còn là quá trình chuẩn hóa thể chế, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia.
Từ chỗ “đi sau, học hỏi”, Việt Nam hướng tới vai trò chủ động đóng góp, thậm chí dẫn dắt trong một số lĩnh vực mới. Phạm vi hội nhập không chỉ gói gọn trong kinh tế, mà lan tỏa sang chính trị, quốc phòng – an ninh, khoa học – công nghệ, văn hóa, giáo dục, môi trường, y tế.
Nghị quyết nhấn mạnh hội nhập phải gắn với bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, song hành với xây dựng nội lực vững mạnh và hoàn thiện thể chế trong nước. Với giá trị cốt lõi là hội nhập chủ động, toàn diện và bền vững, biến thế giới thành không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia.
“Bộ tứ” - Xác lập chuỗi logic phát triển quốc gia
Như vậy có thể thấy rằng bốn nghị quyết đã tạo thành một chỉnh thể logic, như một sợ chỉ đỏ chiến lược xuyên suốt. Trong đó, Nghị quyết 66 về đột phá thể chế giữ vai trò là tạo lập nền móng vững chắc; Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực; Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân giữ vai trò chủ thể và Nghị quyết 59 về Hội nhập quốc tế nắm vai trò tạo lập không gian phát triển.
Nếu một mắt xích yếu, toàn bộ guồng máy sẽ chậm lại. Nhưng khi được triển khai đồng bộ, đây chính là “cuộc cách mạng về chất lượng” trong phát triển quốc gia, đưa Việt Nam tiến nhanh trên con đường trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đồng thời cũng là những cơ sở nền tảng quan trọng để kinh tế tư nhân có thể tiếp tục phát triển mạnh mẽ và vươn tầm quốc tế.
Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ để tiếp tục phát triển như vấn đề về đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, vốn; thiếu cơ chế thử nghiệm công nghệ; chính sách thuế – phí còn bất ổn,... Theo đó, cần xây dựng Luật Khung về đầu tư – kinh doanh làm “xương sống pháp lý”, Luật Khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo với cơ chế ưu đãi rõ ràng. Đồng thời, thí điểm cơ chế pháp lý thân thiện cho doanh nghiệp tư nhân tại một số địa phương. Cải cách căn cơ hệ thống thanh – kiểm tra, chuyển từ “kiểm soát” sang “đồng hành”. Đưa kết quả cải cách vào tiêu chí đánh giá năng lực điều hành của chính quyền địa phương, tạo sức ép cải cách thực chất.
Như vậy, bốn nghị quyết Trung ương số 66, 57, 68 và 59, nếu được thực thi hiệu quả, sẽ trở thành kim chỉ nam đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Các Nghị quyết hết sức quan trọng này không chỉ giải quyết những vấn đề cấp bách trước mắt, mà còn đặt nền tảng chiến lược dài hạn: thể chế hiện đại, công nghệ dẫn dắt, doanh nghiệp tư nhân bứt phá, hội nhập chủ động.
Trong guồng quay hội nhập toàn cầu đầy khốc liệt, “bộ tứ binh pháp” này chính là lời giải để Việt Nam biến khát vọng 2045 thành hiện thực – trở thành một quốc gia phát triển, hùng cường./.
Hải Bình