Với mặt bằng lãi vay hiện đã thấp, cùng nhiều gói tín dụng ưu đãi được tung ra, vốn trong hệ thống ngân hàng không thiếu. Thế nhưng, lại có thời điểm tăng trưởng tín dụng vẫn ì ạch, doanh nghiệp có thể nói là “ngại vay", còn ngân hàng lại dè chừng rủi ro nợ xấu và chất lượng tài sản.
Lãi suất thấp, tín dụng vẫn ì ạch
Có thể thấy từ năm 2023, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ khá mạnh. Riêng trong năm 2023, các mức lãi suất điều hành đã được giảm bốn lần, với tổng mức cắt giảm khoảng 0,5–2 điểm %/năm, nhằm kéo mặt bằng lãi suất cho vay đi xuống, hỗ trợ doanh nghiệp và hộ gia đình.
Thống kê từ Ngân hàng Nhà nước trong năm 2023 lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại đã giảm khoảng 2,5 điểm %/năm; 10 tháng đầu năm 2024, lãi vay bình quân tiếp tục giảm thêm khoảng 0,76 điểm % so với cuối năm 2023. Hết quý 1/2024, lãi suất huy động bình quân với các khoản mới chỉ còn quanh 3,02%/năm, còn lãi suất cho vay bình quân với các khoản giải ngân mới ở mức khoảng 6,5%/năm – thấp hơn đáng kể so với cuối năm trước đó.
Ảnh minh họa
Cập nhật giai đoạn giữa năm 2024 cho thấy bức tranh trái chiều: lãi suất đi xuống nhưng tín dụng vẫn khó ra. Theo báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước, đến giữa tháng 6/2024, tăng trưởng tín dụng mới đạt khoảng 3,7% so với cuối năm 2023; đến tháng 9/2024, tín dụng chỉ tăng 7,38% so với cùng kỳ năm 2023 – thấp hơn khá xa mục tiêu 14–15% mà các chuyên gia từng đánh giá là khả thi cho cả năm. Như vậy, dù “van lãi suất” đã được mở, dòng vốn tín dụng vẫn chảy chậm.
Nhiều chuyên gia cho rằng, phía doanh nghiệp tốt cũng không còn mặn mà vay vốn như trước, do sức cầu yếu, đầu ra bấp bênh, biên lợi nhuận mỏng. TS. Cấn Văn Lực từng nhận định, bối cảnh 2024–2025 với nhiều rủi ro và bất định khiến cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng buộc phải rất thận trọng.
Ở chiều ngược lại, những khách hàng có nhu cầu vốn cao lại thường thuộc nhóm rủi ro: doanh nghiệp bất động sản đang tái cơ cấu, doanh nghiệp phát hành trái phiếu gặp áp lực đáo hạn, hoặc doanh nghiệp nhỏ và vừa có dòng tiền yếu. Trong khi đó, sau giai đoạn nợ xấu tăng mạnh và thực tế từ thị trường trái phiếu doanh nghiệp, các ngân hàng buộc phải siết chặt chuẩn tín dụng, hạn chế cho vay các phân khúc nhạy cảm như bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, hoặc khách hàng có hệ số rủi ro cao.
Thực tế, ngay cả khi tín dụng đã tăng tốc trong những tháng cuối 2024–2025, nhiều ý kiến vẫn nhấn mạnh rằng, con số tăng trưởng không quan trọng bằng chất lượng của các khoản cho vay mới. TS. Đinh Thế Hiển, trong một cuộc trao đổi về tín dụng cuối năm 2024, nhận định việc đạt chỉ tiêu tăng trưởng không khó, nhưng đi kèm phải là kiểm soát chặt rủi ro, tránh lặp lại vòng xoáy nợ xấu.
Số liệu thống kê, đến ngày 20/7/2025, lãi suất huy động bình quân của các ngân hàng thương mại (giao dịch phát sinh mới) ở mức khoảng 4,18%/năm. Cùng thời điểm, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản giải ngân mới là khoảng 6,53%/năm, giảm khoảng 0,4 điểm % so với cuối năm 2024. Đến cuối tháng 10/2025, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng giảm quanh 4,45%/năm; kỳ hạn một tuần ~4,98%/năm, kỳ hạn 2 tuần ~5,27%/năm, kỳ hạn một tháng ~5,49%/năm. Những con số này cho thấy chi phí vốn trong hệ thống ngân hàng tiếp tục được giữ ở mức tương đối “mềm”, hỗ trợ khả năng cho vay khi nhu cầu tín dụng phục hồi.
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tính đến 29/9/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 17,41 triệu tỷ đồng, tăng ~13,4% so với cuối năm 2024. Con số này thể hiện dòng vốn tín dụng đã bắt đầu có sự phục hồi rõ rệt sau giai đoạn tăng trưởng chậm. Đến 28/10/2025, tín dụng toàn hệ thống tăng 14,77% so với cuối 2024, và tăng 20,69% so với cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo quý III/2025 của một số các ngân hàng thương mại cổ phần, dù mở rộng tín dụng nhưng đã ghi nhận nợ xấu tăng nhẹ hoặc tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLCR) giảm, phản ánh thực tế: lợi suất (lãi suất) thấp chưa chắc dẫn tới tín dụng “lành mạnh”.
Nỗi lo chất lượng tài sản sau lưng dòng tín dụng
Nếu lãi suất là bề nổi của câu chuyện tín dụng, thì chất lượng tài sản lại là “phần chìm của tảng băng”. Các số liệu gần đây cho thấy bức tranh nợ xấu và bộ đệm dự phòng của hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực rất lớn. Theo thống kê, đến hết quý III/2024, nợ xấu toàn hệ thống tổ chức tín dụng ước khoảng 252.000 tỷ đồng, tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm trước và tăng hơn 30% so với đầu năm. Nghiên cứu của một công ty chứng khoán lớn cho thấy, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLCR) của hệ thống đã giảm mạnh, từ đỉnh hơn 140% quý III/2022 xuống chỉ còn khoảng 83% vào quý III/2024. Điều này hàm ý “bộ đệm” dự phòng của nhiều ngân hàng mỏng đi đáng kể, làm hạn chế khả năng xử lý nợ xấu nếu kinh tế gặp cú sốc mới.
Đi sâu vào từng ngân hàng, chênh lệch ngày càng rõ. Báo cáo tài chính quý III/2024 ghi nhận một số ngân hàng tư nhân như MSB, BVB, ABB, PGB… đều ghi nhận tỷ lệ nợ xấu trên 3% sau 9 tháng, cá biệt lên tới 4–5%, thậm trí cao hơn mức này ở NCB. Trái lại, nhóm ngân hàng có chất lượng tài sản tốt như Vietcombank vẫn duy trì “vùng an toàn” tương đối. Báo cáo thường niên 2024 của Vietcombank cho thấy dư nợ tín dụng gần 1,5 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 14% so với 2023, trong khi tỷ lệ nợ xấu chỉ 0,97% và tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu nội bảng đạt khoảng 223%, thuộc nhóm cao nhất thị trường. Các ngân hàng có bộ đệm dày như vậy có nhiều dư địa hơn để tiếp tục cho vay, chấp nhận một mức rủi ro hợp lý nhằm hỗ trợ tăng trưởng.
Dù vậy, không phải ngân hàng nào cũng đủ “khỏe” như nhóm dẫn đầu. Một số ngân hàng vừa và nhỏ được đánh giá có LLCR chỉ quanh 40–70%, tỷ trọng cho vay bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp khá lớn, nên nhạy cảm hơn nhiều trước các biến động của thị trường. Bên cạnh nợ xấu trên bảng cân đối, rủi ro từ thị trường trái phiếu doanh nghiệp – nơi phần lớn nhà đầu tư tổ chức là ngân hàng, cũng tạo áp lực không nhỏ lên chất lượng tài sản.
Theo số liệu Bộ Tài chính, dù hoạt động phát hành phục hồi, các báo cáo giám sát cho thấy rủi ro chậm trả gốc, lãi vẫn hiện hữu, nhất là với những doanh nghiệp bất động sản đang tái cơ cấu. Dư địa tài khóa vẫn còn, nhưng nếu hệ thống ngân hàng đối mặt với vòng xoáy nợ xấu mới, chi phí xử lý và hỗ trợ hệ thống sẽ trở thành gánh nặng không nhỏ cho ngân sách.
Ngân hàng mạnh – ngân hàng yếu làm sao “khơi thông” tín dụng mà không đánh đổi chất lượng?
Mặc dù toàn hệ thống cùng chịu áp lực tín dụng tăng chậm, nhưng năng lực cho vay giữa các ngân hàng đang phân hóa rất mạnh, đặc biệt trong bối cảnh nợ xấu tăng và bộ đệm dự phòng suy giảm.
Nhóm ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV, VietinBank, cùng với một số ngân hàng có chất lượng tài sản tốt như Techcombank, có khả năng mở rộng tín dụng cao hơn nhờ bộ đệm dự phòng lớn và danh mục tài sản ít rủi ro hơn.
Nhóm ngân hàng tư nhân cỡ trung đối diện áp lực lớn từ nợ xấu, khiến họ buộc phải co lại tín dụng hoặc chuyển hướng sang các khoản vay an toàn, lợi suất thấp như Techcombank hay VPBank.
Nhóm ngân hàng nhỏ như PGBank, ABBank, BVB, NCB, VietBank là nhóm bị ảnh hưởng nặng nhất, khi chất lượng tài sản biến động mạnh, phụ thuộc lớn vào các mảng rủi ro như bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp.
Dù vậy nhiều chuyên gia cho rằng, “nút thắt” hiện nay không nằm ở việc lãi suất đã đủ thấp hay chưa, mà ở chỗ ngân hàng có tìm được khách hàng đủ tốt để cho vay, còn doanh nghiệp có đủ niềm tin và dự án khả thi để vay vốn hay không.
Theo đó, một số hướng đi đang được nhấn mạnh như đẩy nhanh xử lý nợ xấu, tạo chỗ trống cho chu kỳ tín dụng mới. Việc luật hóa Nghị quyết 42, hoàn thiện cơ chế xử lý tài sản bảo đảm, khuyến khích hình thành thị trường mua bán nợ thứ cấp sẽ giúp ngân hàng giải phóng bảng cân đối nhanh hơn, tránh tình trạng nợ xấu treo lâu năm, chiếm dụng vốn và ăn mòn lợi nhuận. Thêm vào đó là cần kiểm soát chặt chất lượng tín dụng trong các lĩnh vực rủi ro cao.
Đặc biệt là các khoản cho vay bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, dự án dài hạn cần được định giá rủi ro sát hơn, gắn với vốn tự có, dòng tiền thực tế, và mức lãi suất phản ánh đúng rủi ro.
Tiến hành đa dạng hóa phân khúc khách hàng, tăng tỷ trọng tín dụng bán lẻ và SME chất lượng tốt. Thực tế cho thất các chương trình cho vay ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, với lãi suất ngắn hạn chỉ khoảng 4%/năm ở một số lĩnh vực ưu tiên, đang được NHNN khuyến khích mở rộng. Cần phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và tài khóa.
Như vậy, với lãi suất giảm giúp nới chi phí vốn, nhưng không đủ để tự động kích hoạt dòng vốn tín dụng nếu niềm tin và chất lượng tài sản không được củng cố. Khi nợ xấu vẫn tăng, bộ đệm dự phòng mỏng đi và những bài học về trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản chưa được xử lý triệt để, các ngân hàng khó có thể mạnh tay bơm vốn dù còn “room” và chịu sức ép chỉ tiêu tăng trưởng.
Phượng Hòa