15:03 13/06/2018

Quốc Hội chính thức thông qua luật cạnh tranh (sửa đổi).

Theo báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ngày 24/5/2018, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV, Quốc hội đã cho ý kiến tại hội trường về dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi) thì đa số ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành với Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi) và dự thảo Luật.

Sáng ngày 12/6/2018, Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XIV đã chính thức thông qua Luật Cạnh tranh (sửa đổi) với tỷ lệ tán thành là 95,28% số các đại biểu.

Luật Cạnh tranh (sửa đổi) được thông qua gồm 10 chương với 118 điều, quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam; hành vi cạnh tranh không lành mạnh; tố tụng cạnh tranh; xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh; quản lý Nhà nước về cạnh tranh.

Quốc Hội chính thức thông qua luật cạnh tranh (sửa đổi).

Quốc Hội chính thức thông qua luật cạnh tranh (sửa đổi). Nguồn: quochoi.vn

Đối tượng áp dụng là: Tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả doanh nghiệp (DN) sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, DN hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và DN nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; hiệp hội ngành, nghề hoạt động tại Việt Nam.

Về quyền và nguyên tắc cạnh tranh trong kinh doanh, Luật quy định rõ: DN có quyền tự do cạnh tranh theo quy định của pháp luật. Nhà nước bảo đảm quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh danh. Hoạt động cạnh tranh được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, công bằng và lành mạnh, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của DN, của người tiêu dùng.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, thực tiễn thực thi Luật Cạnh tranh trong thời gian qua cho thấy có những trường hợp doanh nghiệp hoạt động trong  một số lĩnh vực như hàng không, vận tải biển, truyền hình trả tiền…, việc bóc tách để tính doanh thu trên thị trường liên quan của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, trong khi có thể tính thị phần căn cứ trên tỷ lệ phần trăm giữa số đơn vị hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, xin Quốc hội cho giữ quy định phương pháp tính thị phần như quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều 10 của dự thảo Luật.

Có ý kiến cho rằng khoản 2 Điều 12 quy định các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được quy định tại khoản 7 và 8 Điều 11 của dự thảo Luật bị cấm nếu thỏa thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường trong khi Bộ luật Hình sự quy định các hành vi này bị xử lý trong trường hợp "khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên". Đề nghị cần cân nhắc để đảm bảo tính đồng bộ, tránh hẹp hơn so với quy định của Bộ luật Hình sự.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết, Điều 217 Bộ Luật hình sự quy định cấm đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại khoản 7 và 8 Điều 11 của dự thảo Luật theo cách tiếp cận của Luật Cạnh tranh hiện hành khi các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên (đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh dựa trên thị phần). Dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) tiếp cận theo hướng cấm các hành vi thỏa thuận nêu trên nếu gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường (Điều 12 của dự thảo Luật). Điều đó cho phép cơ quan cạnh tranh điều tra, xử lý đối với các hành vi này trong trường hợp gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường, kể cả trong trường hợp thị phần kết hợp của các bên tham gia thỏa thuận nhỏ hơn 30% nhưng có những yếu tố khác gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể (theo tiêu chí đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh quy định tại Điều 13 của dự thảo Luật). Điều đó có nghĩa quy định cấm đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại khoản 7 và 8 Điều 11 của dự thảo Luật có phạm vi rộng hơn so với quy định cấm tại Điều 217 Bộ luật Hình sự.

Điều 13 dự thảo Luật quy định các tiêu chí đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong đó có tiêu chí mức thị phần của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Trong quá trình điều tra, nếu phát hiện các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tại khoản 7 và 8 dự thảo Luật thỏa mãn các yếu tố cấu thành hành vi tội phạm quy định tại Điều 217 Bộ Luật hình sự, thì  Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sẽ chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra hình sự theo quy định tại Điều 85 dự thảo Luật.

Về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền (Chương IV), có ý kiến đề nghị nghiên cứu, bổ sung một điểm vào khoản 2 Điều 25 dự thảo Luật quy định về trường hợp có năm doanh nghiệp trở lên có tổng thị phần từ 85% trở lên trên thị trường liên quan. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, bổ sung quy định tại điểm d khoản 2 Điều 24 của dự thảo Luật.

Về hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Chương VI ), có ý kiến đề nghị quy định gộp hai Điều 46, 47 thành một Điều vì Điều 47 quy định cụ thể hóa của 6 nhóm hành vi đã được quy định tại Điều 46 dự thảo Luật. Có ý kiến đề nghị bổ sung hành vi bán phá giá, bán dưới giá thành để cạnh tranh không lành mạnh nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, chỉnh lý hai điều 46, 47 thành Điều 45 của dự thảo Luật, đồng thời bổ sung hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp khác kinh doanh cùng loại hàng hóa, dịch vụ đó tại khoản 6 Điều 45 của dự thảo Luật.

Về điều khoản chuyển tiếp, Luật quy định rõ, kể từ ngày Luật có hiệu lực, hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh theo quy định của Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 được tiếp tục xem xét, giải quyết như sau: Hành vi vi phạm đang bị điều tra, xử lý nếu được xác định không vi phạm quy định của Luật này thì được đình chỉ điều tra, xử lý. Hành vi vi phạm đang bị điều tra, xử lý, giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà vẫn bị xác định vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh (sửa đổi) thì tiếp tục bị điều tra, xử lý, giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật này. Trường hợp hình thức xử lý hoặc mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm theo quy định của Luật Cạnh tranh (sửa đổi) cao hơn quy định của Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 thì áp dụng theo quy định của Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11.

Đoàn Ninh(T/H)