21:46 24/08/2024

Sức ép của ngành ngân hàng trước mục tiêu tăng trưởng tín dụng

Dù cho rằng mục tiêu tăng trưởng tín dụng theo dự phóng năm nay có thể đạt được kỳ vọng, các chuyên gia vẫn đặt câu hỏi “có nên cố gắng đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng”?

Tăng trưởng tín dụng đầu tháng 8/2024 phục hồi trở lại

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa công bố dữ liệu tăng trưởng tín dụng tính đến ngày 16/8 tăng 6,25% so với cuối năm 2023, trong khi trước đó đến hết tháng 7, tổng dư nợ toàn nền kinh tế tăng 5,66%, thấp hơn con số ghi nhận vào cuối tháng 6 là 6,1%.

Như vậy, sau một tháng 6 với những ngày tăng tốc mạnh mẽ về cuối tháng của tín dụng để đạt mục tiêu Chính phủ đề ra trong 6% cho 2H2024, tín dụng đã có bước chậm tháng 7 và mới chỉ phục hồi trở lại đây.

Trước đó, thống kê của NHNN tại cuối tháng 7 ghi nhận, dòng tiền ra nền kinh tế sụt giảm, tín dụng trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng tăng 4,3%; lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 9,8%; lĩnh vực công nghệ cao tăng 18,16%; tín dụng bất động sản tăng 4,6% so với cuối năm 2023 (trong đó, tín dụng cho lĩnh vực kinh doanh bất động sản tăng 10,3%, nhưng tín dụng cho bất động sản tiêu dùng chỉ nhích nhẹ, tăng 1,2%)...

Tại địa bàn TP HCM, dư nợ tín dụng tháng 7 giảm nhẹ 0,09% so với tháng trước đó. Theo ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó Giám đốc NHNN Chi nhánh TP HCM, tín dụng tháng 7 giảm nhẹ chủ yếu là khoản tín dụng ngắn hạn đến hạn và tín dụng ngoại tệ giảm.

Ngoài ra, một số chuyên gia cho rằng sau đợt tăng tốc “đổ tiền” mạnh của những ngày cuối tháng 6, tín dụng phải có quãng hấp thu dòng tiền phù hợp do đó đây cũng là lý do khiến tín dụng có quãng chậm lại. Và điều đó cũng đồng nghĩa khi tín dụng nửa đầu tháng 8 đã tăng lên, tức nhu cầu hấp thu vốn của các thành phần trong nền kinh tế đã phục hồi mạnh lên.

Ông Nguyễn Đức Lệnh chia sẻ, mặc dù tín dụng có quãng sụt giảm nhưng nhìn chung nửa đầu năm, với tình hình kinh tế xã hội và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là những nhóm ngành lĩnh vực động lực tăng trưởng kinh tế tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, sẽ là yếu tố môi trường quan trọng để duy trì và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trong thời gian tới.

Cùng với môi trường kinh tế thuận lợi hơn, lãi suất thấp và chính sách tiền tệ nới lỏng của NHNN được cho là những yếu tố có tác động đến tăng trưởng tín dụng.

NHNN cho biết trong nửa đầu năm lãi suất đối với các khoản vay mới và cũ tiếp tục giảm. Đến cuối tháng 6/2024, lãi suất cho vay bình quân ở mức 8,3%/năm, giảm 0,96% so cuối năm 2023. Lãi suất tiền gửi bình quân ở mức 3,59%/năm, giảm 1,08%/năm so cuối năm 2023.

Cũng theo NHNN, trên thị trường, một số ngân hàng đã xuất hiện nhiều đợt điều chỉnh tăng nhưng phần lớn là tăng lãi suất ngắn hạn, còn lãi suất trung và dài hạn vẫn ở mức rất thấp. Đồng thời, lãi suất cho vay vẫn được giữ ở mức thấp theo chủ trương định hướng hỗ trợ doanh nghiệp và người dân của NHNN.

Ghi nhận cho thấy trong thời gian qua, nhóm Big 4 gồm Vietcombank, VietinBank, Agribank và BIDV, cùng với đó là các NH niêm yết đã giảm lãi suất cho vay trung bình ghi nhận trên báo cáo tài chính khoảng 2% từ mức đỉnh quý I/ 2023 và giảm 1,2% so với cuối năm 2023, tương đương mức thấp của giai đoạn quý I/.2021 - quý III/2022.

CTCK Vietcombank (VCBS) cho rằng, trong đó, nhóm ngân hàng thương mại tư nhân ghi nhận mức lãi suất cho vay giảm mạnh hơn nhóm ngân hàng quốc doanh do hạ lãi suất đầu ra để thu hút khách hàng mới trong bối cảnh cầu tín dụng vẫn yếu, đồng thời giảm lãi suất/giãn nợ để hỗ trợ khách hàng hiện hữu gặp khó khăn.

Thực tế, nhóm NHTMCP tư nhân với thị phần và quy mô tín dụng lớn hơn so với các NH quy mô nhỏ như Techcombank, VPBank, MBB, ACB, HDBank, VIB, MSB, Eximbank, OCB… đều đã bung mạnh các gói ưu đãi lãi suất vay dành cho bán lẻ, SME và đặc biệt cho nhóm tiêu dùng bất động sản (cho vay mua nhà). Cạnh tranh lãi suất ưu đãi cố định ở mức thấp từ 2-3 năm và biên độ thả nổi sau ưu đãi thấp với nhóm Big 4, còn có các NH nước ngoài tại Việt Nam như UOB Việt Nam, Shinhan Việt Nam, Standard Chartered Việt Nam, Woori Việt Nam…

Sức ép của ngành ngân hàng trước mục tiêu tăng trưởng tín dụng
Nguồn: NHNN

Tuy nhiên, theo như dữ liệu thống kê của NHNN tại cuối 6 tháng đầu 2024, tín dụng tiêu dùng bất động sản chỉ tăng 1,2% - cho thấy mặc dù các gói hỗ trợ ưu đãi cho vay mua nhà lãi suất cực thấp được bung mạnh, nhưng người dân vẫn còn tâm lý thận trọng trong vay vốn. Dư nợ tín dụng bất động sản chung cao (tập trung vay dự án, kinh doanh), theo đó, chủ yếu nằm ở các ngân hàng có tỷ trọng cho vay bất động sản - xây dựng cao trong danh mục tín dụng hiện có như TCB, SHB, HDB, VPB…. Những chính sách với 3 Luật liên quan Bất động sản (BĐS) có hiệu lực từ 1/8, đang được kỳ vọng tạo động lực với nguồn cung khả quan hơn trong thời gian tới với các dự án tiếp tục được đẩy nhanh triển khai sau các nỗ lực hỗ trợ về lãi suất, pháp lý; Bên cạnh đó là mặt bằng lãi suất cho vay ở mức thấp sẽ kích thích nhu cầu vay của doanh nghiệp BĐS cũng như nhà đầu tư/người mua nhà... Và đó chính là nền tảng dự báo tín dụng BĐS và xây dựng cũng sẽ tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới.

Cho vay mua nhà có thể dẫn dắt tăng trưởng tín dụng bán lẻ trong thời gian tới, khi lãi suất ở mức thấp và thị trường bất động sản dần hồi phục từ quý II/2024, VCBS đánh giá.

Có nên cố gắng đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng?

Dù cho rằng mục tiêu tăng trưởng tín dụng theo dự phóng năm nay có thể đạt được kỳ vọng, các chuyên gia vẫn đặt câu hỏi “có nên cố gắng đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng”?

Nguyên do, theo phân tích của Khối Phân tích CTCP VPBank (VPBankS), tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam cao so với các nước thuộc dải thu nhập tương đương và tiệm cận với các nước thu nhập cao. Đây cũng là vấn đề mà World Bank đã từng lưu ý, khuyến nghị đối với Việt Nam và cho rằng cần kéo giảm tỷ lệ này, giảm sự phụ thuộc tăng trưởng với tín dụng của nền kinh tế, đồng thời đảm bảo sức khỏe của hệ thống tài chính.

Sức ép của ngành ngân hàng trước mục tiêu tăng trưởng tín dụng
Nguồn: VPBankS

Tại 2021, theo thống kê của World Bank, tỷ lệ tín dụng/ GDP đã lên tới 124% - mức cao như cảnh báo. Thế nhưng tới cuối năm 2023, tỷ lệ tín dụng/GDP cũng vẫn tiếp tục tăng, lên khoảng 133%, tăng so với mức khoảng 125% cuối năm 2022, tiềm ẩn rủi ro an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ.

Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cũng không ít lần nêu vấn đề này khi các đại biểu Quốc hội chất vấn về vấn đề tiếp tục điều hành hay bỏ điều hành trên cơ chế cấp room tín dụng và cho rằng trước mắt, nhà điều hành không thể bỏ cơ chế quản hạn mức cấp tín dụng. Tuy nhiên năm 2024, NHNN cũng đã loại trừ các yếu tố lo ngại về cấp room tín dụng có thể nảy sinh xin - cho, hạn chế chủ động của các NHTM, bằng giải pháp cấp hạn mức tín dụng 1 lần cho cả năm.

Dù vậy, với bức tranh phân hóa tăng trưởng tín dụng của các NH trong hệ thống, trong tổng mức tăng trưởng cho vay đạt 6% của nửa đầu năm 2024 với nhiều nhà băng đạt mức cao, song cũng có những ngân hàng “dẫm chân tại chỗ” về cho vay mới… NHNN cũng đã khẳng định có thể thu hồi room tín dụng đã phân bổ để linh hoạt tái phân bổ, điều tiết theo mục tiêu tăng trưởng tín dụng đã đặt ra, nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Sức ép của ngành ngân hàng trước mục tiêu tăng trưởng tín dụng
Nguồn: VPBankS

Theo VPBankS, năm 2024, tăng trưởng tín dụng đặt ra ở mức 14-15%/năm là thách thức lớn do tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đang ở mức quá cao. Thêm nữa, khi tăng trưởng tín dụng được coi là một tiêu chí để đánh giá ngân hàng làm cơ sở giao room tín dụng cho năm tiếp theo cũng sẽ gián tiếp khiến các ngân hàng cố gắng đẩy hết room tín dụng.

“Khi tăng trưởng phải thỏa hiệp bằng chất lượng tài sản thì mức tăng trưởng đó không bền vững, có thể dẫn đến bất ổn kinh tế, áp lực lạm phát cao và các vấn đề về nợ xấu tồn đọng khó xử lý hơn.

Việt Nam đang tiệm cận tới mức của các đất nước phát triển như Úc, Trung Quốc, Thái Lan, và còn đang cao hơn rất nhiều so với các nước có nền kinh tế tương đồng như Indonesia hay Philippines”, chuyên gia VPBankS phân tích tại báo cáo về ngành ngân hàng 2H2024.

Hồng Quang