12:21 24/06/2025

Tăng giá điện – Kỳ 4: Người dân và doanh nghiệp thêm gánh nặng chi phí

Đặt mục tiêu chuyển đổi xanh mạnh mẽ với kỳ vọng chuyển dần cơ cấu điện năng từ hóa thạch sang năng lượng tái tạo “chuyển từ nâu sang xanh”, nhằm đáp ứng cam kết quốc tế về phát thải và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa. Nhưng dường như quá trình này không mấy suôn sẻ và đang vấp phải những rào cản.

Trong thời gian qua, với những lần tăng giá điện dù dựa trên lý do tài chính của EVN, thì vô hình chung lại đã và đang trở thành rào cản lớn với các doanh nghiệp sản xuất trọng yếu và  mục tiêu chuyển đổi xanh, cùng việc siết mua điện tái tạo đã phá bỏ niềm tin thị trường và đình trệ dòng vốn đầu tư xanh.

Tuy vậy, cũng không thể phủ nhận việc giá điện tăng là một thử thách nhưng cũng là cơ hội để tái cấu trúc chính sách theo hướng công bằng, hỗ trợ phục hồi và thúc đẩy xanh. Và nếu được điều chỉnh hợp lý, có lộ trình, sự minh bạch, nhất quán, sẽ giúp Việt Nam không bị tụt lại trong cuộc đua chuyển đổi năng lượng sạch toàn cầu.

Doanh nghiệp sản xuất chịu thêm gánh nặng chi phí

Sau khi có cơ chế về điều chỉnh giá điện về quy trình, chu kỳ, tỉ lệ tăng giá, chủ thể thực hiện. Thì kể từ năm 2023, Tập đoàn Điện Lực Việt Nam - EVN đã điều chỉnh giá điện tổng cộng 4 lần, trong đó lần mới đây nhất là vào ngày 10/5/2025 với mức tăng giá là 4,8 %. Theo đó mức giá bán lẻ điện đã tăng từ khoảng 2.006 đ/kWh thời điểm cuối 2023 lên hơn 2.204 đ/kWh chưa VAT. Sau đợt tăng giá này dự báo EVN sẽ tăng doanh thu thêm hàng chục nghìn tỷ đồng, nhưng điều này kéo theo áp lực chi phí lớn cho các doanh nghiệp sử dụng điện.

Tăng giá điện – Kỳ 4 Người dân và doanh nghiệp thêm gánh nặng chi phí
Nguồn EVN

Cụ thể, đối với ngành thép chi phí điện chiếm từ 9% đến 15 % tổng chi phí chế tạo, theo đó việc tăng giá điện 4,8% sẽ kéo theo chi phí thép có thể tăng 0,5 đến 0,7%, với lợi nhuận ngành chỉ gần bằng 6 %, việc tăng giá điện gây áp lực cao, khiến giá thép tăng thêm 100.000 -200.000 đ/tấn. Theo Hiệp hội Xi măng, điện chiếm 17–25 % chi phí sản xuất. Khi giá điện tăng 4,8 % từ 10/5/2025, các nhà máy buộc phải tối ưu hóa chi phí và tăng giá bán thêm khoảng 50.000 đ/tấn, đưa giá xi măng tăng cao. Còn đối với ngành hóa chất (9 %) và giấy (4–5 %) cũng chịu tác động; chi phí tăng đẩy giảm lợi nhuận hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng mỗi tháng.

Với lợi nhuận giảm một phần do tăng giá điện, doanh nghiệp buộc phải tăng giá sản phẩm nếu không muốn lỗ. Việc này đẩy người dân thâm hụt chi tiêu, chịu tác động kép cả trực tiếp và gián tiếp từ việc tăng giá điện, các doanh nghiệp cũng phải “oằn mình” gánh chi phí tăng cao, trong khi đó một phần tiếp tục được chuyển vào giá cả hàng hóa dịch vụ tới người dân. Đồng thời chi phí tăng làm giảm cạnh tranh khi nhiều thị trường xuất khẩu áp dụng tiêu chuẩn carbon.

Mặt khác, trong khi EVN yêu cầu tăng giá điện để bù đắp lỗ và chi phí đầu vào, thì cơ chế lại bó hẹp chính sách hỗ trợ điện xanh tại doanh nghiệp, cơ quan, hộ gia đình. Điều này khiến đầu tư điện tái tạo kém khả thi (điển hình là cơ chế mua điện mặt trời), trong khi chính mục tiêu chuyển đổi năng lượng xanh lại đòi hỏi sự tham gia của chính những tác nhân này.

Gỡ nghịch lý để phát triển xanh

Một trong những nghịch lý lớn nhất hiện nay của ngành điện Việt Nam là trong khi EVN liên tiếp tăng giá điện với lý do chi phí đầu vào cao và bù đắp tài chính, thì người dân và doanh nghiệp – những người đã chủ động đầu tư vào năng lượng tái tạo theo định hướng của Quy hoạch điện VII điều chỉnh và Quy hoạch điện VIII – lại không được khuyến khích, thậm chí bị siết mua điện một cách bất hợp lý. Đây là vấn đề không chỉ gây bức xúc trong cộng đồng doanh nghiệp mà còn đi ngược lại với mục tiêu chuyển đổi năng lượng xanh và phát triển bền vững.

Theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh (ban hành năm 2016) và Quy hoạch điện VIII (phê duyệt năm 2023), Việt Nam đặt mục tiêu ưu tiên phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối, nhằm giảm phụ thuộc vào nhiệt điện than và tiến tới trung hòa carbon vào năm 2050. Trong lộ trình này, các cơ chế khuyến khích như giá FIT ưu đãi, hỗ trợ đấu nối lưới điện và khuyến khích điện mặt trời mái nhà đã từng thu hút mạnh mẽ hàng trăm nghìn hộ dân và doanh nghiệp đầu tư vào điện tái tạo.

Tăng giá điện – Kỳ 4 Người dân và doanh nghiệp thêm gánh nặng chi phí
Gỡ nghịch lý để phát triển xanh (ảnh minh họa)

Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, hàng loạt cơ chế thiếu đồng nhất, thậm chí mang tính siết chặt, đã được ban hành. EVN hiện không tiếp tục ký hợp đồng mua điện đối với các dự án điện mặt trời mái nhà mới phát sinh sau ngày 31/12/2020. Thậm chí, nhiều doanh nghiệp đầu tư rooftop solar đã lắp đặt hoàn thiện, vận hành ổn định cũng không được thanh toán phần điện dư phát lên lưới hoặc bị mua với mức giá rất thấp. Trong khi đó, giá điện lưới đã được EVN tăng liên tiếp nhiều đợt, hiện phổ biến ở mức 2.204 đồng/kWh.

Điều đáng nói là EVN viện dẫn lý do khó khăn tài chính, chi phí đầu vào cao để tăng giá điện bán lẻ, nhưng lại không tận dụng nguồn điện xanh do người dân và doanh nghiệp sản xuất. Thay vào đó, doanh nghiệp phải tiếp tục mua điện với giá cao từ EVN, trong khi nguồn điện mặt trời tự sản xuất không được tiêu thụ hết, dẫn đến lãng phí tài nguyên và giảm động lực đầu tư xanh.

Sự mâu thuẫn này khiến không ít nhà đầu tư rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan. Nhiều doanh nghiệp từng mạnh dạn rót vốn vào rooftop solar theo các quy hoạch điện quốc gia, nay lại không có đầu ra cho lượng điện dư thừa. Trong khi đó, các cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) vẫn còn chậm triển khai, các phương án giá mua điện dư chưa rõ ràng, làm mất niềm tin vào chính sách và gây đình trệ làn sóng đầu tư xanh. Và nếu không được tháo gỡ sẽ cản trở nghiêm trọng mục tiêu chuyển dịch năng lượng, làm lãng phí hàng trăm ngàn tỷ đồng vốn xã hội đã đổ vào điện tái tạo.

Và để tháo gỡ rào cản từ việc tăng giá điện và khơi thông con đường chuyển đổi xanh, cần triển khai đồng bộ các giải pháp thiết thực và mang tính dài hạn. Trước hết, cần sớm hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), cho phép các doanh nghiệp sản xuất lớn mua điện tái tạo từ các nhà máy điện xanh với giá thỏa thuận, không qua EVN. Cơ chế này sẽ giúp giảm áp lực lên lưới điện quốc gia, đồng thời mở ra thị trường cạnh tranh thực sự trong lĩnh vực điện năng.

Đồng thời, khôi phục cơ chế giá mua điện hợp lý cho điện mặt trời mái nhà là cần thiết để duy trì động lực đầu tư của người dân và doanh nghiệp. Chính sách bù trừ điện (net-metering) hoặc giá mua tối thiểu tương đương 50-70% giá bán lẻ điện lưới sẽ giúp tận dụng tối đa nguồn điện tái tạo phân tán và giảm gánh nặng đầu tư cho hệ thống truyền tải.

Bên cạnh đó, cần ưu đãi thuế, tín dụng và giảm giá điện giờ thấp điểm cho các doanh nghiệp sử dụng hoặc đầu tư điện xanh, nhằm tạo động lực thực chất cho chuyển đổi mô hình sản xuất bền vững. Ngoài ra, EVN cần tăng tốc đầu tư hạ tầng truyền tải và hệ thống lưu trữ điện để giải quyết tình trạng thừa công suất cục bộ, đảm bảo hấp thụ tối đa sản lượng điện từ các nguồn tái tạo.

Về lâu dài, sự ổn định và minh bạch của chính sách, minh bạch chi phí và các yếu tố đầu vào của EVN là yếu tố then chốt. Việc tăng giá điện nếu không đi kèm với các cơ chế hỗ trợ năng lượng xanh phù hợp sẽ tiếp tục là rào cản lớn, làm chậm lại tiến trình chuyển đổi xanh.

Một vấn đề cốt lõi cần được quan tâm song song với việc kiểm soát giá điện là yêu cầu minh bạch chi phí của EVN. Việc tăng giá điện liên tục trong thời gian qua, nếu không được công bố rõ ràng các cấu phần chi phí, không để việc lấy tăng giá để bù đắp cho các khoản lỗ từ đầu tư ngoài ngành, quản lý cồng kềnh, hoặc vận hành kém hiệu quả.

Điều này không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu dùng mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh thiếu công bằng cho các doanh nghiệp điện tư nhân và các nhà đầu tư điện tái tạo, vốn vận hành hiệu quả hơn nhưng lại khó tiếp cận lưới điện và thị trường. Vì vậy, EVN cần công khai, kiểm toán độc lập các khoản chi phí sản xuất – kinh doanh điện, đặc biệt là các khoản đầu tư ngoài ngành. Chỉ khi giá điện phản ánh đúng thực chất chi phí và vận hành minh bạch, mới có thể tạo ra một thị trường điện cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy chuyển đổi xanh và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng cũng như doanh nghiệp./.

Hải Bình