12:41 08/08/2022

Thách thức với doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường EU sau 2 năm Hiệp định EVFTA có hiệu lực

Dù đem lại nhiều lợi thế, ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu, nhưng Hiệp định EVFTA cũng tạo ra nhiều thách thức đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải thay đổi, thích ứng để hưởng lợi. Cùng với đó, những thách thức cũng khiến doanh nghiệp Việt không tận dụng hết các ưu đãi mà Hiệp định mang lại.

Tại Toạ đàm “Tận dụng EVFTA để xây dựng thương hiệu ngành hàng”, chia sẻ về những thách thức mà Hiệp định EVFTA đặt ra đối với ngành thuỷ sản, Bà Lê Hằng – Giám đốc Truyền thông Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu Thủy sản cho biết, doanh nghiệp cơ bản sẽ đối diện với 4 thách thức lớn:

Thứ nhất, thách thức lớn đối với thuỷ sản khi xuất khẩu sang EU đó là đảm bảo quy tắc xuất xứ. Mặc dù, chúng tôi nhận thấy Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản, Bộ Công Thương đã có nhiều chương trình phối hợp để đào tạo cho doanh nghiệp đảm bảo về chứng nhận xuất xứ, tuy nhiên cũng không tránh khỏi không tìm hiểu kỹ. Do từng thị trường có những kiểm soát riêng, dẫn tới những hiểu lầm về cấp CO, quy tắc xuất xứ. Đây chính là trở ngại đổi với thuỷ sản khi xuất khẩu sang EU.

Thứ hai, là thẻ vàng IUU, đây là yếu tố làm hạn chế rất nhiều khi xuất khẩu thuỷ sản sang EU, làm thiếu nguyên liệu xuất khẩu thuỷ sản sang EU.

Thách thức với doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường EU sau 2 năm Hiệp định EVFTA có hiệu lực
Bà Lê Hằng – Giám đốc Truyền thông Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu Thủy sản (bên trái).

Thứ ba, lạm phát của EU hiện nay cho thấy thương mại sang thị trường này đang bị khủng hoảng nghiêm trọng. Thực tế này đang dẫn tới người tiêu dùng EU thắt chặt chi tiêu, tập trung vào mặt hàng giá vừa phải. Mặt khác, tỷ giá EUR so với USD thấp nhất sau 20 năm khiến người tiêu dùng hạn chế chi tiêu và điều này khiến cho nhà nhập khẩu sẽ thương lại với nhà nhập khẩu trong việc chậm đơn hàng.

Thứ tư, là áp lực cạnh tranh của thuỷ sản Việt Nam đối với các đối thủ khác. Như cạnh tranh về mặt hàng tôm của Ấn Độ, Ecuador … do nguồn cung, chi phí vận tải.

Ngoài ra, còn có các thách thức khác về dài hạn như về yêu cầu chứng nhận ngày càng cao hơn của thị trường, hay yêu cầu về môi trường, lao động cũng là vấn đề nghiêm trọng đối với thuỷ sản Việt Nam khi khai thác thị trường EU.

Thách thức với doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường EU sau 2 năm Hiệp định EVFTA có hiệu lực
Ngô Chung Khanh – Vụ Chính sách Thương mại đa biên.

Nói thêm về những thách thức với ngành thuỷ sản và gạo hiện nay, ông Ngô Chung Khanh – Vụ Chính sách Thương mại đa biên khẳng định: “Theo tôi, doanh nghiệp Việt Nam quá giỏi, vì thách thức rất lớn nhưng tăng trưởng 2 con số. Trong đó, ngành thuỷ sản vẫn là ngành tận dụng tốt nhất trong các mặt hàng xuất khẩu sang EU. Rõ ràng doanh nghiệp Việt Nam vẫn có một tiềm lực cực lớn, nhưng thách thức vẫn nhiều.”

Theo ông Khanh, có những thách thức mà ngành thuỷ sản và gạo cần vượt qua, thứ nhất về gạo, việc xây dựng thương hiệu quan trọng, vì theo EVFTA chúng ta có đến 30 ngàn tấn gạo thơm nhưng chưa tận dụng hết, thậm chí trong quá trình trao đổi với EU họ nói 30 tấn còn chưa dùng hết thì đòi thêm làm gì? Bao giờ tận dụng hết mới tính.

Trong quá trình đàm phán, Vụ Chính sách Thương mại đa biên đã đề nghị dư địa rất lớn, nhưng doanh nghiệp lại không tận dụng hết, đó là thách thức. Ví dụ như gạo thơm thì cần có thương hiệu, nhưng hiện thương hiệu gạo Việt rất yếu, nếu chỉ làm gia công thì làm sao tăng công suất, doanh nghiệp này không xuất thì doanh nghiệp kia xuất bù lên cho đủ 30 ngàn tấn. Hoặc những doanh nghiệp lớn có thể kết hợp với nhau để đủ 30 ngàn tấn.

“Chúng tôi cũng đề xuất Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước trao đổi với các ngân hàng thương mại để tạo ra một khoản vay, vay không phải vay hỗ trợ xuất khẩu mà có một khoản tạo điều kiện tiếp cận tín dụng tốt hơn cho doanh nghiệp tiếp cận FTA. Đấy là điểm để giúp doanh nghiệp tiếp cận và hoá giải thách thức. Còn những thách thức trên thì cần một quá trình dài hơi, chúng tôi với tư cách là cơ quan theo dõi sẽ tập hợp và báo cáo cơ quan liên quan để tìm hướng giải quyết” - ông Khanh chia sẻ.

Thách thức với doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường EU sau 2 năm Hiệp định EVFTA có hiệu lực
Doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường EU sau 2 năm Hiệp định EVFTA có hiệu lực vẫn đương đầu nhiều thách thức.

Để vượt qua những thách thức này, Giám đốc Truyền thông Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu Thủy sản cho rằng, để tận dụng thị trường EU, trước hết phải tháo gỡ được khó khăn về thẻ vàng IUU, lấy lại được thể xanh để tăng cơ hội cho thuỷ sản.

“Bởi nếu chúng ta để chuyển sang thẻ đỏ chúng ta sẽ có nguy cơ mất thị trường EU. Và như vậy, mỗi năm sẽ mất 500 triệu USD riêng cho ngành thuỷ sản sang EU. Đặc biệt, EU là thị trường định hướng sẽ chi phối các thị trường khác trong việc kiểm soát chặt về nguồn gốc xuất xứ” - Bà Lê Hằng chia sẻ.

Ngoài ra, thách thức về cạnh tranh với các nước khác từ việc chúng ta sản xuất năng suất thấp, quy mô nhỏ lẻ, chưa có khu vực sản xuất tập trung dẫn tới chất lượng, số lượng đều có những hạn chế.

Vì thế, nhà nước cần có sự hỗ trợ đầu tư về khoa học công nghệ cho con giống, thức ăn chăn nuôi… Đặc biệt là tăng cường các giải pháp để tận dụng được chế biến phụ phẩm trong ngành thuỷ sản, bởi phụ phẩm chiếm khoảng 40-50% sản lượng thuỷ sản.

Về Hiệp định EVFTA, mong có thêm sự hỗ trợ từ Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương để hướng dẫn doanh nghiệp tận dụng tối đa ưu đãi thuế quan, cũng như áp dụng tốt nhất các quy tắc xuất xứ để giảm bớt các vướng mắc khi xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường EU.

Cùng với đó, cải thiện môi trường kinh doanh là bước đi cần thiết mà Chính phủ cần thực hiện để giúp doanh nghiệp tối ưu hoá lợi ích từ EVFTA. Tuy nhiên, theo ông Ngô Chung Khanh, cải thiện môi trường kinh doanh không phải là nguyên nhân chính khiến chúng ta không tận dụng được EVFTA mà vấn đề lớn nhất hiện nay có nhiều nguyên nhân.

Đầu tiên là văn hoá kinh doanh, tư duy kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam, cái này thực chất, Chính phủ chỉ tạo ra cơ hội khi đàm phán. Ví dụ như với Hiệp định với Hàn Quốc. Với Hiệp định này, mỗi năm Hàn Quốc cho Việt Nam 55 ngàn tấn, nhưng Việt Nam tận dụng không tốt, cạnh tranh nhau, dìm giá nhau… Ngoài ra, chất lượng gạo của các doanh nghiệp Việt Nam không đồng đều, nên ảnh hưởng đến thương hiệu gạo của Việt Nam, và nếu vẫn tiếp tục như vậy thì có thể dừng xuất khẩu.

“Vướng về tư duy, văn hoá doanh nghiệp của chúng ta, đó là cái lớn nhất. Thứ 2 đó là sự vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa của các cơ quan, bộ ngành, địa phương, trong đó địa phương cũng cần tích cực hơn nữa hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu. Thứ 3, là vấn đề quy tắc xuất xứ, liên quan đến nguồn nguyên liệu, chi phí kinh doanh, chi phí vận chuyển. Tổng thể 3 điểm ấy mà chia thành các nhóm biện pháp thì sẽ hiệu quả hơn rất nhiều” - ông Ngô Chung Khanh đánh giá.

Hồng Quang