Các chuyên gia nhận định thị trường vàng đang trải qua giai đoạn biến động chưa từng có khi cả giá và nguồn cung cùng lúc chịu áp lực. Từ đầu năm đến nay, giá vàng thế giới tăng 62% so với năm 2024, trong khi giá vàng trong nước vọt tới 84%.
Nguồn cung hạn chế cũng đẩy giá vàng trong nước lên cao
Trong nhiều năm qua, thị trường vàng Việt Nam luôn ở trạng thái nhạy cảm. Giá vàng biến động mạnh, chênh lệch với thế giới có lúc vượt 20 triệu đồng/lượng; cung - cầu mất cân đối; giao dịch không chính thức diễn ra phổ biến… khiến thị trường thiếu minh bạch, tiềm ẩn rủi ro và gây thiệt thòi cho người dân, doanh nghiệp.
Việc giá vàng bị đẩy lên quá cao so với thế giới không chỉ tạo điều kiện cho đầu cơ, thao túng mà còn gây áp lực lên điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá, ảnh hưởng tới ổn định vĩ mô và tâm lý nhà đầu tư.
Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 232/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 24/2012/NĐ-CP nhằm từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kinh doanh vàng, tạo hành lang rõ ràng hơn cho quản lý thị trường.
Tại diễn đàn “Thị trường Vàng Việt Nam: Thuận lợi và thách thức trong giai đoạn mới", do Báo Kinh tế & Đô thị tổ chức, chiều 24/11. Ông Vũ Hùng Sơn - Tổng Thư ký Hiệp hội Kinh doanh Vàng cho biết, thị trường vàng Việt Nam đang trải qua giai đoạn nhiều biến động khi cả người dân lẫn doanh nghiệp đều đối mặt với những trở ngại chưa từng có. Tình trạng xếp hàng mua vàng chỉ phản ánh phần nổi của khó khăn, còn phía sau là sự thiếu hụt kéo dài của nguồn cung nguyên liệu chính thức.
Theo ông Vũ Hùng Sơn, suốt 13 năm qua, doanh nghiệp kinh doanh vàng không có cơ chế tiếp cận nguồn nguyên liệu vàng chính thức. Việc không thể tiếp cận vàng nhập khẩu theo cơ chế rõ ràng đã khiến các doanh nghiệp buộc phải sử dụng nguồn vàng “trôi nổi”, chấp nhận rủi ro để duy trì sản xuất và có hàng cung ứng ra thị trường. Nguồn cung hạn chế cũng đẩy giá vàng trong nước lên cao, trong khi người dân lại khó hoặc không thể mua được. Toàn bộ hệ thống cửa hàng phải đầu tư máy hiện đại để kiểm tra chất lượng vàng, thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm thủ công như trước. Đây là nghịch lý đáng lo ngại đối với một ngành nghề có giá trị gia tăng rất cao.
Diễn đàn “Thị trường Vàng Việt Nam: Thuận lợi và thách thức trong giai đoạn mới", (Ảnh: Báo Kinh tế & Đô thị tổ chức)
Khi xây dựng khung pháp lý cho thị trường vàng, Thủ tướng giao NHNN, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh an toàn, thuận lợi, lành mạnh, hấp dẫn để người dân tích cực đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, khởi nghiệp thay vì dự trữ vàng; nghiên cứu hình thành sàn giao dịch vàng theo hướng người dân được tự do giao dịch, mua bán; tách bạch giữa quản lý nhà nước và hoạt động sản xuất, kinh doanh vàng; đẩy mạnh sản xuất, chế tác vàng trang sức để tạo thêm công ăn việc làm; tăng cường công tác thông tin, truyền thông, giải tỏa tâm lý giữ vàng trong dân…
Chia sẻ về công tác quản lý vàng trang sức, ông Nguyễn Đức Lê – Phó Phòng Nghiệp vụ Quản lý Thị trường (Bộ Công Thương) thông tin, hiện nay, mạng lưới kinh doanh vàng trang sức của nước ta rộng nhưng phân tán, nhiều cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ nằm rải rác trên cả nước.
Cơ quan quản lý Nhà nước cũng chưa thể thống kê được đầy đủ số cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ, nhất là ở những khu vực vùng sâu, vùng xa. Thực tế này gây khó khăn cho cơ quan quản lý Nhà nước cũng là nguyên nhân dẫn đến quản trị của nhiều DN, cơ sở sản xuất kinh doanh vàng chưa tốt, thậm chí cạnh tranh không lành mạnh.
Trong thời gian qua, Bộ Công Thương, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước cũng đã tăng cường kiểm tra thị trường kinh doanh vàng. “Góc khuất” ở đây chính là kiểm định vàng trang sức, do không thống kê được số cơ sở kinh doanh vàng trang sức, chất lượng vàng do cơ sở tự công bố lại ko yêu cầu bắt buộc nên xảy ra không ít vi phạm.
Ông Nguyễn Đức Lê cho hay, thực tế kiểm tra, chúng đã phát hiện nhiều sản phẩm có tuổi vàng không đồng nhất. Người tiêu dùng mua sản phẩm không so sánh được chất lượng sản phẩm cùng loại của các đơn vị khác nhau. Trong khi thị trường có muôn vàn loại vàng (vàng Hàn Quốc, Thái Lan, Ý, vàng mỹ nghệ gắn thêm đá quý, 18K, 24K...)
Đáng nói, nhiều cơ sở, đơn vị kinh doanh vàng trang sức khai báo sai về chất lượng vàng, sai lệch về trọng lượng so với thông tin, số liệu công bố của sản phẩm. Chưa kể là chưa xác nhận được nguồn gốc của vàng và gặp khó khăn trong vấn đề truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Chính vì vậy, câu hỏi đặt ra là có nên nhập vàng về hay không? Lượng vàng cung ứng để sản xuất vàng trang sức như vậy đã đủ chưa?.
Cần bỏ độc quyền xuất, nhập khẩu vàng miếng
Tại diễn đàn, TS. Lê Xuân Nghĩa - thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, nhìn lại câu chuyện quản lý thị trường vàng tại Việt Nam, nhấn mạnh đây là vấn đề đã kéo dài từ trước năm 1948 cho đến nay và vẫn để lại nhiều hệ lụy. Theo ông, sự “nhạy cảm” của mặt hàng vàng không nằm ở bản chất kinh tế, mà chủ yếu do yếu tố ý chí quản lý. Cho đến giờ, đôi khi chúng ta nhìn vàng như một thứ gì đó quá ghê gớm, nhưng thực ra nhiều vấn đề không phức tạp đến thế.
Dẫn số liệu của các tổ chức quốc tế và cơ quan quản lý, TS. . Lê Xuân Nghĩa cho rằng lượng vàng nhập khẩu chính ngạch vào Việt Nam mỗi năm rất nhỏ, ước tính chỉ khoảng 5 tấn, tương đương hơn 5 tỷ USD. Con số này thấp hơn nhiều so với giá trị nhập khẩu của các mặt hàng tiêu dùng khác. Ông Nghĩa dẫn chứng như hiện mỹ phẩm nhập khẩu của ta hằng năm lên tới 11 tỷ USD, sữa và các chế phẩm từ sữa khoảng gần 5 tỷ USD.
Đáng chú ý, theo Chủ tịch Hội đồng Vàng Thế giới, khoảng 75% vàng tích trữ tại Việt Nam là vàng nhập lậu. Điều này cho thấy chính hạn chế trong cơ chế nhập khẩu chính thức đã đẩy thị trường vào tình trạng méo mó, chênh lệch giá và phát sinh buôn lậu.
TS Nghĩa nhấn mạnh, việc người dân giữ vàng là một hình thức tiết kiệm, phòng thân và hoàn toàn chính đáng. Việt Nam hiện ước tính có khoảng 500 tấn vàng trong dân con số không hề lớn so với các quốc gia khác. Chúng ta là một nước nghèo, người dân để dành được 500 tấn vàng là rất đáng quý. Đó là thói quen tốt, là ý thức tiết kiệm và phòng ngừa rủi ro, khi Nhà nước không thể hỗ trợ kịp thời trong các tình huống thiên tai, bệnh tật, biến cố.
Giải thích xu hướng giá vàng liên tục tăng trong nhiều năm, ông Nghĩa cho tằng, tổng lượng vàng khai thác hàng năm trên thế giới chỉ tăng từ 1,2% - 1,5%, trong khi cung tiền toàn cầu tăng 3,5% - 4,5%. Tiền tăng nhanh hơn vàng thì vàng phải tăng giá, đó là quy luật. Người dân hiểu điều đó nên giữ vàng là chuyện bình thường.
TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng chính sự độc quyền trong nhập khẩu vàng miếng đã dẫn tới thị trường méo mó, người dân chịu thiệt. Cơ quan quản lý không nhập chính thức, thì người dân buộc phải mua vàng nhập lậu, mua hàng kém chuẩn. Đó là điều vô lý. Ông Nghĩa nhấn mạnh, quản lý thị trường không thể chỉ dựa trên tư duy “siết cho chặt” mà bỏ qua quyền lợi người dân.
Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, yêu cầu quan trọng nhất hiện nay là cần bỏ độc quyền xuất, nhập khẩu vàng miếng của ngân hàng thương mại. Đây là điểm mấu chốt để đảm bảo thị trường minh bạch, giá vàng trong nước tiệm cận thế giới, giảm buôn lậu và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân.
Theo ông, bên cạnh việc chấm dứt độc quyền xuất, nhập khẩu vàng miếng của ngân hàng thương mại, cần thực hiện ba thay đổi quan trọng. Thứ nhất, bỏ độc quyền quản lý thị trường vàng của SJC. Thứ hai, cho phép một số ngân hàng thương mại lớn được tham gia kinh doanh và sản xuất vàng miếng, đáp ứng trực tiếp nhu cầu vàng miếng trong dân.
Thứ ba, tham khảo mô hình Trung Quốc: trong 13 doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh và dập vàng miếng, Trung Quốc cho phép 5 ngân hàng thương mại tham gia.
TS Nghĩa nhấn mạnh, các ngân hàng có lợi thế về thanh toán quốc tế, giao dịch ngoại thương, công nghệ và khả năng xử lý biến động giá theo giờ. Họ có thông tin, có kỹ năng quản trị rủi ro, đủ điều kiện để tham gia thị trường vàng bài bản.
Ngoài ngân hàng, một số doanh nghiệp đủ năng lực, vốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng trở lên cũng có thể được cấp phép kinh doanh vàng miếng, song vẫn cần kiểm soát chặt chẽ.
Anh Đào