Nói “Thương trường cũng là chiến trường”, mới nghe qua, có vẻ như được phóng đại lên quá mức.
“Mọi sự so sánh đều khập khiễng”. Nhưng thực ra, sự giành giật giữa các bên và mức độ quyết liệt của chiến trường và thương trường là như nhau. Để chiến thắng trên chiến trường, điều mấu chốt là giữ được đất, nhất là ở những địa bàn chiến lược và giành được dân.
Để chiến thắng trên thương trường điều mấu chốt là giữ được thị phần, nhất là thị phần ở những sản phẩm có giá trị gia tăng cao và kéo được người tiêu dùng đến mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mình. Điểm khác nhau là ở chỗ: Chiến trường phải đổ máu, còn Thương trường phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt”. Nhưng, không chỉ thế, chẳng phải có nhà doanh nghiệp đã phải nhảy lầu tự tử vì làm ăn thua lỗ, nợ nần chồng chất, bán hết tài sản, kể cả tài sản ông cha để lại mà vẫn không trả được nợ, phải nhảy lầu tự tử đó sao!
Vậy thì, nói “Thương trường: cũng là “Chiến trường” quả không ngoa, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, hầu hết các cam kết của Việt Nam về mở cửa thị trường trên cả ba lĩnh vực: Thương mại hàng hóa, Thương mại dịch vụ và đầu tư trong WTO, các Hiệp định của khu vực mậu dịch tự do mà nước ta đã tham gia đang bước vào giai đoạn cuối lộ trình thực thi đầy đủ. Không chỉ thế, sau khi gia nhập WTO, nước ta đã ký một loạt các Hiệp định MDTD song phương theo cam kết WTO+ (Là các Hiệp định có mức độ cam kết mở của thị trường sâu rộng hơn cam kết của ta trong WTO). Đặc biệt là, vào cuối năm 2015 chúng ta đã kết thúc đàm phán Hiệp định MDTD Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA). Hai bên đang rà soát pháp ly để tiến tới ký kết chính thức và tiến hành các thủ tục phê chuẩn.
Chúng ta cũng đang cùng 10 đối tác khác ở hai bờ Thái Bình Dương xử lý một số vấn đề trong Hiệp định TPP sau khi Mỹ rút khỏi hiệp định này để ký một Hiệp định với tên gọi mới: CPTPP. CPTPP và EVFTA là những “Hiệp định MDTD thế hệ mới” Các Hiệp định này không chỉ bao hàm các nội dung thương mại, (hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là cả 3 lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư) và Sở hữu trí tuệ với những nội dung mới, phù hợp với sự phát triển của Khoa học - Công nghê trong thời đai hiện nay. EVFTA và CPTPP còn có các nội dung, không phải là thương mại trực tiếp nhưng có liên quan đến thương mại như : Thương mại và môi trường, Thương mại và lao động, Phát triển bền vững,… nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng, có trách nhiệm.
Từ năm 2015, các nhà lãnh đạo ASEAN đã tuyên bố thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN, nhằm tạo ra một thị trường duy nhất và một cơ sở sản xuất thống nhất trong 10 nước thành viên. Hiện nay, Việt Nam cũng đang đàm phán một số Hiệp định MDTD khác.
 Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển tại Hội nghị cho ý kiến đối với 2 báo cáo tư vấn của Hội đồng Lý luận Trung ương trình Hội nghị Trung ương 5 Khóa XII. |
Như vậy, với các cam kết sâu rộng trong các hiệp định này, nhiều doanh nghiệp nước ngoài sẽ đầu tư, lập cơ sở phân phối tại nước ta. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với doanh nghiệp các nước thành viên WTO, nhất là doanh TẠP CHÍ THƯƠNG TRƯỜNG SỐ 01 + 02/2018 9 nghiệp các nước ASEAN và các nước có Hiệp định MDTD với Việt Nam, không chỉ trên thị trường nước ngoài mà ngay trên thị trường Việt Nam. Cuộc cạnh tranh này sẽ diễn ra trên cả hai cấp độ: (i) cạnh tranh giữa sản phẩm với sản phẩm, (ii) giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Bởi lẽ, nếu doanh nghiệp sản xuất được sản phẩm tốt nhưng năng lực tài chính yếu, khả năng tổ chức thị trường kém cũng không thể thiết lập được mạng lưới cung ứng và tiêu thụ để chiếm lĩnh thị trường, thu hút khách hàng. Ngoài ra, doanh nghiệp còn chịu tác động của chính sách vĩ mô. Và, mặc dù trong những năm gần đây, thể chế kinh tế và môi trường kinh doanh ở Việt Nam tuy đã được cải thiện khá nhiều nhờ Nghị quyết 35/CP và một loạt nghị quyết 19/CP của Chính phủ nhưng vẫn còn những hạn chế, bất cập. Trong điều kiện đó, doanh nghiệp Việt Nam lại đang phải vượt lên chính mình do những hạn chế yếu kém sau đây:
1/ Sinh sau đẻ muộn nên quy mô nhỏ (khoảng 97,85% là DN N&V, trong đó, 70% là siêu nhỏ, 20% là nhỏ, 2% là DN vừa); tiềm lực tài chính và công nghệ yếu. Một ví dụ minh họa: trong 100 doanh nghiệp có quy mô thị trường lớn nhất ASEAN thì Malaysia có 27, Singapore: 21, Thái Lan: 21, Philippines: 14, Việt Nam: 1 (Petro Việt Nam)
2/ Thiếu tư duy chiến lược và tầm nhìn dài hạn. Chưa biết đặt khách hàng vào vị trí trung tâm, lấy sự hài lòng của khách hàng làm cơ sở cho việc tạo ra lợi ích của doanh nghiệp mình; quen kinh doanh theo kiểu chộp giật, kinh doanh cơ hội (yếu kém này có nguyên nhân từ sự thiếu minh bạch, không ổn định của chính sách vĩ mô, nhất là trong những năm trước đây). Doanh nghiệp chưa nhận thức được chiến lược tăng trưởng về bản chất là chiến lược nâng cao sức cạnh tranh.
3/ Độ tinh xảo trong kinh doanh còn kém, năng lực đổi mới sang tạo còn yếu.
4/ Khả năng liên kết và hợp tác kém.
5/ Trình độ hiểu biết về văn hóa kinh doanh của DN Việt Nam đối với từng nước đối tác trong các hiệp định MDTD mà Việt Nam là thành viên, ngay cả trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là hạn chế. Theo khảo sát của Phòng Thương mai và Công nghiệp Việt Nam, 70% doanh nghiệp nước ta hiểu biết rất ít về AEC. Trình độ tiếng Anh kém hơn hầu hết các nước trong ASEAN.
6/ Thị trường vốn chưa phát triển, chủ yếu dựa vào vốn vay của các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, lãi suất tín dụng cao, làm chi phí vốn tăng.
7/ Chi phí Logictics quá cao, chiếm trên 20% tổng chi phi. Với những yếu kém trên đây, rõ ràng “cuộc chiến” giành giật thị trường là một cuộc chiến không cân sức và hết sức quyết liệt.
 Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển thăm mô hình trồng rau an toàn tại xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. |
Nhưng, mặt khác, doanh nghiệp Việt Nam cũng phải biết khai thác lợi thế của mình. Những lợi thế đó là:
1/ Trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển rất nhanh, rất mạnh hiện nay, một nước đi sau, một doanh nghiệp “sinh sau đẻ muộn” có thể đuổi kịp và vượt lên những nước, doanh nghiệp có trình độ phát triển cao hơn nếu có chiến lược và cách làm đúng đắn. Điều này dẫn đến hai hệ quả: (i) quy mô không bằng tốc độ và (ii) tư duy mạnh hơn kinh nghiệm.
2/ Quy mô nhỏ cũng dễ tái cấu trúc hơn, chi phí tái cấu trúc sẽ thấp hơn các doanh nghiệp lớn.
3/ Doanh nghiệp Việt Nam có khả năng thích ứng nhanh trước sự biến đổi của thị trường. Trong khi vận động, biến đổi không ngừng là một đặc điểm lớn trong thời đại của chúng ta. Ở đó, tuổi đời của sản phẩm được rút ngắn, thị hiếu tiêu dung cũng thay đổi nhanh.
4/ Thị trường nội địa nước ta với gần 100 triệu dân là thị trường lớn, khi kinh doanh trên thị trường này, doanh nghiệp Việt hiểu thị hiếu và văn hóa tiêu dung của người Việt hơn các doanh nghiệp nước ngoai. Vì vậy, doanh nghiệp nước ta phải hết sức coi trọng kinh doanh trên thị trường nội địa.
Ngoài ra, những nỗ lực cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh của Chính phủ đang tạo ra nhũng thuận lợi mới cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nước ta nói riêng.
Điều doanh nghiệp cần lưu ý là: trong thách thức luôn ẩn chứa những cơ hội. Có dám đối đầu với thách thức mới biết ta là thế nào và có thể làm được những gì? Ông chủ của Tập đoàn Oracle, một tập đoàn máy tính hàng đầu thế giới từng nói: “Tôi có quá nhiều thách thức để thành công”.
Trương Đình Tuyển - Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại