12:17 23/07/2025

Tiền nhàn rỗi tiếp tục chảy vào ngân hàng

Trong bối cảnh thị trường đầu tư như bất động sản, chứng khoán, sản xuất kinh doanh vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, dòng tiền nhàn rỗi từ cả khu vực doanh nghiệp và cá nhân tiếp tục đổ mạnh vào hệ thống ngân hàng.

Tiền gửi lập đỉnh mới, tăng cả ở doanh nghiệp và dân cư

Theo số liệu vừa được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố, đến cuối tháng 5, tiền gửi cả khách hàng cá nhân và tổ chức kinh tế các tổ chức tín dụng (TCTD) đạt hơn 15,3 triệu tỷ đồng, tăng gần 1% so với tháng liền trước. 

Trong đó, tiền gửi của dân cư đã lên hơn 7,6 triệu tỷ đồng, tăng 7,61% so với đầu năm. Riêng trong tháng 5, tiền gửi cư dân đã tăng thêm khoảng 65.427 tỷ đồng.

Tiền gửi của doanh nghiệp đạt hơn 7,7 triệu tỷ đồng, tăng 0,97% so với cuối năm 2024. Nếu so sánh với thời điểm cuối tháng 4, tiền gửi doanh nghiệp đã tăng thêm hơn 116.370 tỷ đồng. 

Tiền nhàn rỗi tiếp tục chảy vào ngân hàng

Cập nhật mới nhất, trong báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý II/2025 và 6 tháng đầu năm vừa được Tổng cục Thống kê cho biết, mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay duy trì xu hướng giảm, tỷ giá được điều hành chủ động, linh hoạt, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Tính đến thời điểm 26/6/2025, tổng phương tiện thanh toán tăng 7,09% so với cuối năm 2024 (cùng thời điểm năm trước tăng 2,48%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 6,11% (cùng thời điểm năm trước tăng 1,82%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 8,30% (cùng thời điểm năm trước tăng 4,85%).

Trong sáu tháng đầu năm 2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, đồng thời đẩy mạnh các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.

Tại thời điểm tháng 6/2025, lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của NHTM trong nước ở mức 0,1- 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,2- 4,0%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,5-5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 4,8-6,1%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng và 6,8-7,1%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng.

Lãi suất cho vay bình quân của NHTM trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 6,5-8,8%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,9%/năm thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN (4%/năm).

Lý do dòng tiền “trú ẩn” vào ngân hàng

Trong giai đoạn thị trường tài chính còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là bất động sản và chứng khoán chưa thực sự ổn định, ngân hàng vẫn được xem là nơi giữ tiền an toàn và linh hoạt nhất. Một bộ phận doanh nghiệp đang chờ các tín hiệu rõ ràng hơn từ đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, cải thiện tiêu dùng và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp từ Chính phủ. Trong thời gian “chờ cơ hội”, tiền mặt được giữ trong ngân hàng như một biện pháp an toàn và linh hoạt. Tiền gửi ngân hàng vừa dễ dàng rút ra khi cần thiết, vừa giúp nhà đầu tư tránh được biến động giá tài sản trên thị trường.

Bên cạnh đó, kinh tế thế giới và khu vực vẫn tiềm ẩn nhiều bất trắc, như xu hướng tăng thuế tại Mỹ, xung đột địa chính trị, và thách thức về tăng trưởng toàn cầu. Trong nước, dù tăng trưởng GDP tích cực, nhiều doanh nghiệp vẫn thận trọng với kế hoạch đầu tư mở rộng do chi phí sản xuất cao, đầu ra chưa chắc chắn. Do đó, việc “để tiền trong ngân hàng” trở thành phương án chờ đợi. Tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2025 chỉ đạt khoảng 4,5% – thấp hơn kỳ vọng và mục tiêu cả năm. Điều này cho thấy doanh nghiệp chưa có nhiều động lực mở rộng sản xuất – kinh doanh, thay vào đó họ lựa chọn gửi tạm tiền nhàn rỗi vào ngân hàng, chờ thị trường ổn định hơn.

Mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 6–12 tháng hiện dao động quanh mức 4–5,5%/năm – không cao nhưng vẫn vượt lạm phát và tốt hơn so với việc để tiền “chết” trong tài khoản thanh toán hoặc đầu tư rủi ro. Trong bối cảnh thị trường tài sản chưa rõ xu hướng, đây là mức sinh lời chấp nhận được với nhiều người dân và doanh nghiệp.

Dòng tiền nhàn rỗi đổ vào ngân hàng không chỉ phản ánh niềm tin vào hệ thống tài chính mà còn là biểu hiện của sự thận trọng, tâm lý phòng thủ trước những biến động thị trường. Trong khi đây là yếu tố tích cực giúp ổn định thanh khoản và thị trường tiền tệ, thì về lâu dài, việc khơi thông dòng tiền này vào sản xuất, đầu tư và tiêu dùng mới là mục tiêu quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Trung Anh