Tình trạng dư cung và cạnh tranh gay gắt trong ngành xi măng được dự báo sẽ tiếp tục diễn ra trong năm 2023.
Theo Hiệp hội xi măng Việt Nam (VNCA), trong tháng 10 toàn ngành sản xuất hơn 6,3 triệu tấn tăng nhẹ so với tháng 9. Tiêu thụ xi măng nội địa trong tháng 10 đạt 5,38 triệu tấn bằng tăng 16% so với tháng 9 và tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2021.
Việt Nam là quốc gia có năng lực sản xuất xi măng đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ, với khả năng sản xuất khoảng 107 triệu tấn/năm.
Hiện nay, cả nước có trên 103 dây chuyền sản xuất xi măng, 63 nhà máy tổng công suất trên 107 triệu tấn/năm. Con số này sẽ còn tiếp tục tăng khi nhiều dự án đang được đầu tư và dự kiến hoàn thành trong thời gian tới, nâng tổng công suất thiết kế toàn ngành lên 123 triệu tấn/năm.
Trong khi đó, theo Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA), tổng sản lượng tiêu thụ xi măng trong nước dự kiến 63-64 triệu tấn, khiến các nhà sản xuất càng chật vật trong khâu bán hàng.
Ông Nguyễn Quang Cung, Chủ tịch VNCA thừa nhận, thách thức lớn của ngành hiện tại là tình trạng mất cân đối cung - cầu. Dư cung lớn và phụ thuộc vào xuất khẩu là thực tế của ngành xi măng trong những năm gần đây.
Các doanh nghiệp phải đẩy mạnh việc xuất khẩu xi măng ra nước ngoài để duy trì hoạt động. Tuy nhiên, xuất khẩu lại đang chứng kiến sự giảm tốc thấy rõ do các thị trường trọng điểm giảm nhập khẩu.
Xuất khẩu gặp khó
Sau năm 2021 lập kỷ lục về xuất khẩu xi măng, clinker gần 46 triệu tấn, xuất khẩu những tháng gần đây đã sụt giảm mạnh do sự suy yếu của lĩnh vực bất động sản dân dụng tại Trung Quốc vốn chiếm 30 - 35% tổng tiêu thụ xi măng của quốc gia này. Đây là nguyên nhân chính khiến sản lượng clinker, xi măng xuất khẩu của Việt Nam suy giảm.
Trong khi đó, thị trường lớn thứ hai là Philippines cũng bị ảnh hưởng bởi tình trạng vận tải biển khó khăn và giá cước cao, kèm theo thuế chống bán phá giá trên 10% được áp dụng với xi măng nhập khẩu từ Việt Nam.
Một vấn đề nữa mà ngành xi măng phải đương đầu trong năm nay và năm 2023 là xuất khẩu khó hơn do các nước nhập khẩu xi măng, clinker tiếp tục thực hiện nhiều chính sách bảo hộ sản xuất xi măng trong nước, áp dụng các hàng rào kỹ thuật thương mại, giá cước vận chuyển cao...
Ngoài ra, theo Nghị định số 101 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122 và Nghị định số 57 từ ngày 1/1/2023, sẽ điều chỉnh tăng thuế xuất khẩu đối với mặt hàng clinker từ 5% lên 10% nhằm hạn chế xuất khẩu sản phẩm dùng nhiều nguyên liệu, nhiên liệu và tài nguyên khoáng sản không tái tạo.
Khi thuế, chi phí tăng lên, giá xuất khẩu sẽ trở nên đắt đỏ hơn, các quốc gia nhập khẩu mặt hàng này sẽ càng phải cân nhắc nhiều hơn để lựa chọn nhập khẩu từ quốc gia nào có giá thành hợp lý nhất. Điều này dự báo kênh xuất khẩu trong những năm tiếp theo không có nhiều cơ hội tăng trưởng.
Kỳ vọng vào việc giải ngân dự án đầu tư công
Tình trạng cung vượt cầu đã đặt các doanh nghiệp sản xuất xi măng trước sự cạnh tranh gay gắt cả về chất lượng và giá thành trong việc tiêu thụ sản phẩm. Điều này không chỉ ở thị trường xuất khẩu, mà còn ở cả thị trường tiêu thụ nội địa.
Hơn 55% sản lượng tiêu thụ xi măng ở trong nước phụ thuộc vào ngành bất động sản. Với việc thị trường bất động sản gặp khó khiến sản lượng xi măng tiêu thụ trong nước sau 10 tháng chỉ ở mức 51,9 triệu tấn.
Kể cả các thương hiệu lớn như Hà Tiên, Hoàng Thạch hay Bỉm Sơn… cũng khó trong việc tiêu thụ, các doanh nghiệp này phải tìm mọi giải pháp, nhưng bán hàng rất vất vả.
VNCA cho rằng ngành xi măng sẽ phải tiếp tục kỳ vọng vào những tín hiệu tích cực từ việc giải ngân mạnh mẽ của Chính phủ đối với nhiều dự án đầu tư công trong năm 2022 - 2023 sẽ bù đắp phần nào sự sụt giảm của thị trường xuất khẩu.
Trung Anh (t/h)