Thị trường tín dụng tiếp tục bùng nổ với mức tăng gần 15% sau 10 tháng và được dự báo có thể đạt 19–20% trong năm 2025, mở ra giai đoạn mở rộng mạnh nhất trong gần 15 năm. Tuy nhiên, bên cạnh tốc độ tăng trưởng ấn tượng, nhiều chuyên gia cảnh báo rủi ro về chất lượng dòng vốn, hiệu quả hấp thụ tín dụng và sự phụ thuộc ngày càng lớn của nền kinh tế vào hệ thống ngân hàng.
Tiếp tục bùng nổ
Thị trường tín dụng đang trải qua một giai đoạn tăng trưởng được xem là mạnh mẽ nhất trong gần 15 năm, phản ánh rõ sức bật của nền kinh tế hậu đại dịch. Theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến cuối tháng 10/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng gần 15% so với cuối năm 2024 và tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm trước.
Với tốc độ này, cơ quan điều hành dự báo tăng trưởng tín dụng cả năm hoàn toàn có thể đạt ngưỡng 19–20% là mức mở rộng mà thị trường chỉ chứng kiến trong những thời kỳ tăng trưởng nóng trước đây.
Sự “nóng lên” của tín dụng cũng được phản ánh rõ trong bức tranh tài chính quý III của 27 ngân hàng niêm yết. Trong nhóm Big 4, BIDV tiếp tục khẳng định vai trò dẫn đầu với dư nợ lên tới hơn 2,23 triệu tỷ đồng, tăng 8,8% so với đầu năm. VietinBank là cái tên bứt phá mạnh nhất trong nhóm này với mức tăng 15,6%, đưa tổng dư nợ lên gần 1,99 triệu tỷ đồng. Vietcombank cũng cho thấy sức tăng ổn định khi ghi nhận mức tăng 12,5%, đạt 1,63 triệu tỷ đồng.
Ở khối ngân hàng tư nhân, bức tranh còn sôi động hơn. MB dẫn đầu về cho vay khách hàng với mức tăng gần 20%, đưa tổng dư nợ lên 931.500 tỷ đồng. Techcombank tiếp tục chứng minh chiến lược xoay quanh khách hàng doanh nghiệp là đúng hướng, khi dư nợ tăng tới 21,4%. Các ngân hàng còn lại trong nhóm như HDBank, VPBank, ACB hay VIB đều ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, dao động từ 15% đến trên 22%, phản ánh nhu cầu tín dụng cực lớn trên thị trường.
Theo báo cáo của WiGroup, dòng vốn trong hệ thống đang chảy mạnh về các lĩnh vực Bất động sản , Xây dựng và Vận tải - kho bãi. Đây đều là những ngành có tính lan tỏa cao, thường đóng vai trò dẫn dắt trong các chu kỳ phục hồi. Ngược lại, tín dụng cho lĩnh vực Công nghiệp chỉ tăng ở mức trung bình, còn nhóm Bán buôn - Bán lẻ ghi nhận sự mở rộng chậm chạp hơn, cho thấy sự phân hóa rõ rệt về nhu cầu vốn.
TS. Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ của Thủ tướng, cho rằng đà tăng trưởng tín dụng 18–20% trong năm nay là hoàn toàn hợp lý. Theo ông, nền kinh tế Việt Nam đang phục hồi mạnh mẽ và đã chính thức vượt qua ngưỡng trước đại dịch (năm 2019), tạo tiền đề để tín dụng mở rộng trở lại.
Một động lực quan trọng đến từ thị trường bất động sản. Sau giai đoạn 2021–2023 bị “nén” sâu vì pháp lý ách tắc và thanh khoản suy kiệt, thị trường này đang bật tăng trở lại nhờ hàng loạt dự án được tháo gỡ vướng mắc bằng Nghị quyết 171 và Nghị quyết 98 của Quốc hội. Cùng với đó là sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ trong việc xử lý các dự án “đắp chiếu” kéo dài. Tất cả những yếu tố này cộng hưởng tạo ra nhu cầu tín dụng cực lớn từ doanh nghiệp lẫn nhà đầu tư.
“Bất động sản vẫn là tài sản lớn nhất trong nền kinh tế, có sức lan tỏa mạnh tới xây dựng, vật liệu và cả tiêu dùng. Sự hồi phục của thị trường này là diễn biến tự nhiên theo quy luật cung – cầu,” ông Nghĩa nhấn mạnh.
Liên quan tới hiện tượng nhiều ngân hàng báo “hết room” tín dụng và mặt bằng lãi suất nhích tăng trong mùa cao điểm cuối năm, TS. Nghĩa cho rằng đây là diễn biến mang tính chu kỳ.
Theo ông, lãi suất tăng chủ yếu do áp lực tỷ giá và lạm phát khiến NHNN phải điều tiết thận trọng, chứ không hoàn toàn do tín dụng tăng quá nóng. Khi hạn mức mới được cấp vào đầu năm sau, mặt bằng lãi suất sẽ có điều kiện để hạ nhiệt, tạo dư địa tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng.
Thị trường tín dụng tiếp tục bùng nổ với mức tăng gần 15% sau 10 tháng và được dự báo có thể đạt 19–20% trong năm 2025, mở ra giai đoạn mở rộng mạnh nhất trong gần 15 năm.
Dấu hỏi về chất lượng
Dù ghi nhận tín dụng tăng tốc và nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ, nhiều chuyên gia cho rằng đằng sau những con số tăng trưởng đẹp vẫn tiềm ẩn những rủi ro không thể xem nhẹ. TS. Châu Đình Linh (Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM) là một trong những người lên tiếng sớm nhất về chất lượng của dòng vốn, thay vì chỉ nhìn vào quy mô hay tốc độ mở rộng tín dụng.
Theo ông Linh, tăng trưởng tín dụng chỉ bền vững khi nền kinh tế thực sự hấp thụ được lượng vốn bơm ra. Thực tế cho thấy nhiều năm gần đây, Việt Nam phải sử dụng tới “2 đồng tín dụng để thu về 1 đồng GDP”.
Điều này đồng nghĩa hiệu quả vốn đang giảm dần. Nếu tín dụng tiếp tục được đẩy mạnh mà năng lực sản xuất không tăng tương ứng, dòng tiền sẽ có xu hướng “chảy” sang các kênh đầu cơ như bất động sản hay chứng khoán. Hệ quả khó tránh là áp lực lạm phát, sự hình thành bong bóng tài sản và những cú sốc thanh khoản tiềm ẩn trong hệ thống.
“Tăng trưởng tín dụng suy cho cùng chỉ là một con số. Quan trọng nhất vẫn là dòng vốn có đi đúng đích hay không. Nếu chỉ tập trung bơm vốn để làm đẹp số liệu mà thiếu giám sát, thì bài toán nợ xấu sẽ kéo dài và ngày càng phức tạp”, TS. Linh nhấn mạnh.
Những lo ngại này cũng trùng khớp với cảnh báo của các tổ chức quốc tế. Tại Diễn đàn Economic Insights 2025 vừa diễn ra, ông Sacha Dray, Kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam nhận định tốc độ mở rộng tín dụng nhanh đang khiến đòn bẩy tài chính toàn hệ thống tăng lên.
Mặc dù chất lượng tài sản nhìn chung vẫn ổn định, với tỷ lệ nợ xấu (NPL) ước tính khoảng 6,6% trong năm 2024, nhưng khả năng chống chịu rủi ro của các ngân hàng lại có xu hướng suy giảm rõ rệt.
Một chỉ báo quan trọng là tỷ lệ bao phủ nợ xấu. Nếu như những năm trước, con số này luôn duy trì ở mức rất cao, đảm bảo đệm dự phòng đủ lớn, thì đến quý III/2025 đã giảm xuống chỉ còn 80,4%. Mức dự phòng thấp hơn đồng nghĩa hệ thống ngân hàng dễ bị tổn thương hơn nếu nền kinh tế gặp biến động.
Với tốc độ tăng trưởng tín dụng hiện tại, nhiều dự báo cho rằng những tháng cuối năm, dư nợ toàn hệ thống sẽ còn tiếp tục mở rộng mạnh. Đây là quy luật quen thuộc, bởi nửa cuối năm luôn là giai đoạn nhu cầu vốn của doanh nghiệp, đặc biệt trong các ngành sản xuất, thương mại và tiêu dùng tăng cao. Tuy nhiên, sự tăng tốc này cũng kéo theo những hệ quả không thể tránh.
Một mặt, các ngân hàng buộc phải tăng cường huy động vốn để giữ cân đối thanh khoản, từ đó tạo áp lực đẩy lãi suất huy động lên cao hơn. Mặt khác, lãi suất cho vay vì thế cũng có thể bị đẩy tăng theo, tác động ngược trở lại doanh nghiệp những chủ thể vốn đang rất cần dòng vốn giá rẻ để duy trì sản xuất kinh doanh.
Hiện tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP của Việt Nam đã lên tới 137%, cho thấy mức độ phụ thuộc rất lớn của nền kinh tế vào hệ thống ngân hàng, một mức cao hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực. Các chuyên gia cảnh báo rằng nếu tiếp tục duy trì cấu trúc này, rủi ro hệ thống có thể gia tăng khi bất kỳ cú sốc kinh tế nào cũng lập tức tác động trực tiếp vào các ngân hàng.
Vì vậy, bên cạnh việc kiểm soát chất lượng tín dụng, giới chuyên môn khuyến nghị cần phát triển mạnh mẽ thị trường vốn bao gồm thị trường trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán và các công cụ tài chính dài hạn nhằm chia sẻ gánh nặng vốn cho hệ thống ngân hàng. Chỉ khi kênh tín dụng và kênh vốn song hành, tăng trưởng mới có thể duy trì một cách bền vững và ít rủi ro hơn.
Bình Minh