15:07 19/12/2024

Triển vọng ngành dầu khí: Kỳ vọng chuyển mình từ việc tái khởi động các dự án nội địa

Nhận định về triển vọng ngành dầu khí Việt Nam năm 2025, Chứng khoán VCB (VCBS) cho rằng nguồn cung khí nội địa suy giảm nhanh. Việc phát triển các dự án nội địa góp phần đảm bảo phát triển ngành điện phù hợp với các mục tiêu quốc gia và đảm bảo an ninh năng lượng Quốc gia. Tiến độ các dự án nội địa được đẩy nhanh cũng sẽ hỗ trợ hoạt động E&P các doanh nghiệp thượng nguồn.

Nhu cầu khí trong nước được dự báo sẽ ngày càng tăng

Theo báo cáo của VCBS, với nhu cầu điện ngày càng tăng, nhu cầu khí trong nước cũng được dự báo tăng tương ứng. Theo Bộ Công Thương, dự kiến tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu (SX&NK) toàn hệ thống năm 2024 đạt ~309.7 tỷ kWh (+10.09% YoY) với dự kiến lượng khí tiêu thụ đạt ~ 2750 tr.m3 (đối với khí Đông Nam Bộ) và ~ 1224 tr.m3 (đối với khí Tây Nam Bộ) và tổng lượng tiêu thụ khí LNG đạt ~ 248 tr.m3. 

Nhu cầu khí trong nước được dự báo sẽ ngày càng tăng trong các lĩnh vực như hóa chất, công nghiệp, giao thông vận tải, đô thị và đặc biệt là sản xuất điện (chiếm 80%)… Tổng nhu cầu khí dự kiến theo quy hoạch ngành khí (nhu cầu cơ sở) lên tới khoảng 13 tỷ m3 vào năm 2020, hơn 22 tỷ m3 vào năm 2025 và trên 34 tỷ m3 vào năm 2030.

Wood Mackenzie cũng dự báo nhu cầu khí đốt của Việt Nam sẽ tăng trưởng trung bình 12% mỗi năm, đạt mức gấp ba lần vào giữa những năm 2030 và tiếp tục tăng trưởng đều đặn đến năm 2050. 

Triển vọng ngành dầu khí Kỳ vọng chuyển mình từ việc tái khởi động các dự án nội địa

Điều này đặt ra áp lực lớn cho ngành năng lượng, đặc biệt trong bối cảnh nguồn cung nội địa từ các mỏ khí hiện tại giảm sút đáng kể. Các mỏ khí chủ lực hiện nay đã và đang trong giai đoạn suy giảm sau quá trình dài khai thác. Nguồn cung khí nội địa mới cho điện khí chỉ còn nguồn khí miền Trung (Cá Voi Xanh và Báo Vàng) và nguồn khí Lô B. Tổng cung khí cho điện giai đoạn 2035-2045 sẽ chỉ còn duy trì khoảng 7,7 tỷ m3/năm. Trong phần trữ lượng nguồn khí nội địa đã phát hiện nhưng chưa khai thác đến hiện nay, trữ lượng từ các dự án này chiếm tới 30%, bằng với trữ lượng còn lại của các mỏ đang khai thác.

Ưu tiên phát triển điện khí nội địa

Phát triển các dự án nội địa góp phần đảm bảo phát triển ngành điện phù hợp với các mục tiêu quốc gia và đảm bảo an ninh năng lượng Quốc gia. Luật Điện lực (sửa đổi), có hiệu lực từ ngày 1/2/2025 ưu tiên phát triển điện khí sử dụng khí nội địa, đồng nghĩa với việc huy động cao từ mỏ khí trong nước như Lô B cho thấy quyết tâm phát triển các dự án trong nước của Chính Phủ.

Bên cạnh đó, theo QHĐ VIII, Việt Nam có kế hoạch chuyển đổi cơ cấu năng lượng từ than đá sang các nguồn năng lượng phát thải thấp để đáp ứng cam kết phát thải ròng bằng 0 đến 2050. Tổng quy mô công suất điện khí và LNG đến năm 2030 được quy hoạch là 30,4GW (LNG: 22,5 GW, khí nội địa, 7,9GW). Do đó mức tiêu thụ khí đốt cũng được dự báo tăng trong trung và dài hạn mặc dù khí tự nhiên được coi là một nhân tố ngắn hạn trong lộ trình chuyển dịch năng lượng.

Mục tiêu dài hạn của chiến lược là xây dựng lộ trình để các nhà máy điện khí LNG chuyển đổi sang kết hợp hydro vào cơ cấu phát điện, sự chuyển dịch sang sử dụng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) không chỉ giúp duy trì sự ổn định cho hệ thống điện quốc gia mà còn đảm bảo an ninh năng lượng dài hạn cho Việt Nam.

Triển vọng ngành dầu khí Kỳ vọng chuyển mình từ việc tái khởi động các dự án nội địa
Các dự án nhiệt điện khí sử dụng khí nội địa trong QHĐ VIII

Theo Kế hoạch thực hiện QHĐ VIII, tổng công suất điện khí triển khai thêm trong thời gian tới là 7.240 MW. Chủ yếu nguồn khí sẽ đến từ nguồn mỏ khí Lô B và mỏ khí Cá Voi Xanh.

Cụ thể, với mỏ khí Lô B, trữ lượng ước tính 107 tỷ m3, giá khí theo phương án được duyệt tại miệng giếng vào năm 2017 là 9,36 USD/mmBTU. Theo ERAV ước tính chi phí vận chuyển đến khu vực Ô Môn khoảng 1.37 USD/mmBTU, giá khí vào năm 2026 khoảng 13.1 USD/mmBTU với trượt giá 2%/năm. 

Mỏ khí Cá Voi Xanh với trữ lượng ước tính 150 tỷ m3, giá khí mỏ Cá Voi Xanh đến hàng rào nhà máy khoảng 9.048 USD/mmBTU theo phương án được ký kết vào năm 2017, có điều chỉnh trượt giá. ERAV dự báo giá khí vào năm 2028 ở mức 11.25 USD/mmBTU với giả định trượt giá 2%/năm. 

Tình hình thượng nguồn ngành dầu khí Việt Nam đang cho thấy nhiều tín hiệu tích cực. Nhiều dự án khai thác dầu khí lớn trong nước có những bước tiến mới sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Triển vọng ngành dầu khí Kỳ vọng chuyển mình từ việc tái khởi động các dự án nội địa
Một số dự án dầu khí quan trọng giai đoạn 2023 - 2030

Cùng với đó, nhiệt điện khí LNG sẽ được đẩy mạnh phát triển đến năm 2030 với tổng công suất hơn 22.400 MW trước khi chuyển dần sang nguồn điện hydro nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào nhập khẩu LNG. Trong tổng 22.400 MW điện LNG theo QHĐVIII, đến nay mới chỉ có 2 dự án đang trong quá trình triển khai xây dựng ở miền Nam là Nhơn Trạch 3 và 4 (1.500 MW) và Hiệp Phước 1 (1.200 MW). Dự án điện LNG Nhơn Trạch 3 và 4 do Tổng công ty Điện lực Dầu khí (PV Power) làm chủ đầu tư được triển khai từ năm 2017 và dự kiến sẽ vận hành thương mại vào năm 2025, 2026. Với dự án điện LNG Bạc Liêu của Công ty Delta Offshore được cấp chủ trương đầu tư từ năm 2020, nhưng 3 năm nay vẫn chưa đàm phán được xong PPA, chưa vay được vốn cho đầu tư xây dựng.

Ngày 19/11/2024, Hợp đồng mua khí nhiên liệu đầu tiên cho Nhiệt điện LNG Nhơn Trạch 3-4 đã được ký kết, đánh dấu bước mở đầu của giai đoạn ký kết các hợp đồng LNG dài hạn tại Việt Nam. Việt Nam hiện tại chỉ mua LNG với giá giao ngay và chưa ký bất kỳ hợp đồng mua bán LNG dài hạn nào.

Theo Wood Mackenzie, việc thiếu hụt nguồn cung khí LNG theo hợp đồng, cùng với nguồn tài nguyên trong nước ngày càng cạn kiệt sẽ làm tăng nguy cơ biến động giá điện khí ở Việt Nam. Nguyên nhân chủ yếu do vẫn chưa tìm được tiếng nói chung giữa bên bán - công ty sản xuất điện khí LNG và bên mua – EVN. Tuy nhiên Luật Điện lực sửa đổi vừa được thông qua có quy định dự án điện khí LNG sẽ được hưởng cơ chế sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn cùng với việc 2 dự án điện LNG đầu tiên của Việt Nam là Nhơn Trạch 3&4 dự kiến sẽ vận hành thương mại trong năm 2025 và 2026 sẽ hỗ trợ đáng kể đối với việc ký kết hợp đồng LNG dài hạn của Việt Nam.

Xu hướng chuyển đổi năng lượng sạch là cơ hội cho các doanh nghiệp dầu khí

Theo nhận định của chuyên gia tại VCBS, chuyển dịch năng lượng xanh là xu hướng tất yếu của Thế giới. Đến hết năm 2023 thế giới có 75,2 GW điện gió ngoài khơi được lắp đặt. Trong đó, đứng đầu là Trung Quốc, UK, Đức, Hà Lan, Đan Mạch, chiếm đến 91% công suất lắp đặt của điện gió ngoài khơi, các quốc gia còn lại, trong đó có Việt Nam chỉ chiếm có 9%.

Năng lượng tái tạo sẽ đóng vai trò trụ cột trong cơ cấu năng lượng quốc gia. Quy hoạch điện VIII tiếp tục phát triển mạnh mẽ nguồn điện tái tạo. Tổng công suất NLTT (không tính thủy điện) sẽ đóng góp 63% tổng công suất thiết kế vào năm 2050. Trong giai đoạn 2021-2030, nhóm điện gió được đẩy mạnh cả trên bờ và ngoài khơi, sau năm 2030. Nghị Quyết số 139/2024/QH15 về Quy hoạch Không gian biển Quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2030 đã được thông qua ngày 28/06/2024 sẽ tạo cơ sở để triển khai thực hiện Quy hoạch điện lực.

Theo Báo cáo ‘Chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi cho kịch bản phát triển nhanh của Việt Nam’ của Đại sứ quán Na uy, Việt Nam có tiềm năng đáng kể trong việc nội địa hóa các thành phần chính của dự án điện gió ngoài khơi, đặc biệt là chế tạo chân đế, lắp ráp vỏ bọc và cung cấp tháp gió. Các doanh nghiệp trong ngành dầu khí đều quan tâm mạnh mẽ và có kế hoạch tham gia thị trường điện gió ngoài khơi. Với lợi thế sẵn có từ cơ sở dữ liệu như địa kỹ thuật, địa vật lý của ngành dầu khí, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực dồi dào, có chất lượng.

Bên cạnh đó, các dự án điện gió ngoài khơi lại có một số hạng mục, công trình tương đồng với các dự án dầu khí ngoài khơi. Từ đó, góp phần đem lại hiệu quả trong việc sử dụng tài sản hiện hữu. Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cũng chỉ ra rằng kinh nghiệm chuyên môn của ngành công nghiệp dầu khí có thể chi phối 40-45% chi phí một dự án điện gió ngoài khơi.

Triển vọng ngành dầu khí Kỳ vọng chuyển mình từ việc tái khởi động các dự án nội địa
Tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam

Việt Nam có tiềm năng kỹ thuật phát triển điện gió lên tới 821 GW theo quy hoạch điện VIII, trong đó điện gió ngoài khơi có tiềm năng khoảng 600 GW, tập trung chủ yếu tại Nam Trung Bộ (210MW), Nam Bộ (174MW), Trung Trung Bộ (78 MW). Các dự án tiềm năng có trong quy hoạch điện VIII tập trung chủ yếu tại Nam Trung Bộ (72 MW), Nam Bộ (43 MW) và Bắc Bộ (38 MW).

Việt Nam với một tiềm năng được đánh giá là khá tốt cho phát triển năng lượng tái tạo (điện gió ngoài khơi hơn 450 GW, điện gió trên bờ hơn 210 GW, điện mặt trời 200-300 GW), triển vọng trong tương lại cho phát triển năng lượng tái tạo là rất lớn. Trong tổng hơn 600.000 km2 diện tích khu vực nghiên cứu tại vùng biển Việt Nam, khu vực tiềm năng có khả năng xây dựng chiếm hơn 21,62%, tương đương 130,229.97 km2. Trong đó, diện tích khu vực tiềm năng xây dựng điện gió gần bờ (khu vực có độ sâu nước dưới 20 m) gần 14.330 km2 ứng với 11,00% trong tổng diện tích khu vực tiềm năng, chủ yếu tập trung tại các tỉnh Quảng Ninh, TP Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu và Cà Mau. Diện tích tiềm năng còn lại là điện gió ngoài khơi chiếm 89% (gần 116.000 km2).

Quy hoạch không gian biển quốc gia đã được phê duyệt. Vướng mắc đối với việc giao khu vực biển để điều tra, đo đạc, khảo sát sẽ được tháo gỡ khi sắp tới Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 11/2021/NĐ-CP quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện giao biển cho 1 dự án ĐGNK để xuất khẩu sang Singapore, khoảng 10 dự án điện gió trên biển ở vùng 6 hải lý.

Trung Anh