10:50 22/12/2022

Triển vọng tươi sáng hơn cho các công ty cảng biển giai đoạn 2023-2024

Kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác cảng biển tăng trưởng khả quan trong bối cảnh nhu cầu thế giới suy yếu. Công ty chứng khoán VNDirect nhận định triển vọng tươi sáng hơn cho các doanh nghiệp cảng biển nhờ giá cước vận tải đường biển giảm và giải tỏa ùn tắc tại các cảng lớn.

Tăng trưởng khả quan trong bối cảnh nhu cầu thế giới suy yếu

Trong báo cáo ngành mới cập nhật, Công ty Chứng khoán VNDirect cho biết trong 9 tháng đầu năm 2022, xét về sản lượng hàng hóa, cụm cảng TP.HCM vẫn là cụm cảng sầm uất nhất Việt Nam với thị phần 22,1%, tiếp theo là cụm cảng Cái Mép – Thị Vải (15,2%) và cụm cảng Hải Phòng (12,8%). ). Tổng sản lượng hàng hóa 9 tháng đầu năm 2022 tăng 3,0% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng hàng hóa của cụm cảng Hồ Chí Minh và cụm cảng Cái Mép – Thị Vải giảm 6,4%/4,1% so với cùng kỳ do luồng lạch bị bồi đắp trong khi sản lượng hàng hóa của cụm cảng Hải Phòng tăng 2,8% so với cùng kỳ vì luồng lạch đã được nâng cấp.

Xét về kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác cảng biển đang niêm yết, trong 9 tháng đầu năm 2022, tổng doanh thu tăng 13,0% so với cùng kỳ do tăng trưởng sản lượng hàng hóa thông qua các cảng biển Việt Nam và giá bán trung bình cải thiện nhờ giảm dư cung qua các cảng biển trên toàn quốc và đồng USD mạnh hơn.

Triển vọng tươi sáng hơn cho các công ty cảng biển giai đoạn 202324

Biên LN gộp của các nhà khai thác cảng biển tăng 2,2% so với cùng kỳ do doanh thu cao hơn bù đắp cho chi phí cố định. Nhờ đòn bẩy hoạt động cao của các công ty khai thác cảng biển, LN ròng 9 tháng đầu năm 2022 của các công ty cảng biển tăng 35,4% so với cùng kỳ, trong đó GMD ghi nhận mức tăng trưởng mạnh nhất 94,2% so với cùng kỳ nhờ đóng góp của Gemalink giai đoạn 1.

VNDirect tin rằng các yếu tố tích cực bao gồm giá cước vận tải biển thấp hơn, giảm tắc nghẽn tại các cảng lớn và khả năng nới lỏng chính sách Zero Covid tại Trung Quốc có thể bù đắp cho nền kinh tế toàn cầu suy yếu trong năm 2023-24, mang lại triển vọng trung lập cho ngành cảng biển toàn cầu.

Triển vọng tươi sáng hơn nhờ giá cước vận tải đường biển giảm 

Bức tranh ngành cảng biển Việt Nam có thể tươi sáng hơn trong thời gian tới. Bất chấp thắt chặt tiền tệ toàn cầu, FDI giải ngân vào Việt Nam vẫn tăng 15,2% so với cùng kỳ trong 10T22 với phần lớn các dự án nhắm vào lĩnh vực công nghiệp và sản xuất (60%). Hiệp định RCEP, có hiệu lực vào đầu năm 2022, đã thúc đẩy một số ngành sản xuất của Việt Nam đạt mức tăng trưởng mạnh trong nửa đầu năm 2022, nhưng chậm lại trong nửa cuối năm do tiêu dùng toàn cầu giảm.

Triển vọng tươi sáng hơn cho các công ty cảng biển giai đoạn 202324

VNDirect tin rằng các hiệp định thương mại này sẽ tác động tích cực đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm tới khi tiêu dùng toàn cầu phục hồi, từ đó mang lại lợi ích cho ngành cảng biển Việt Nam. Kỳ vọng sản lượng container của Việt Nam sẽ tăng 2,5% so với cùng kỳ trong năm 2022 lên 24,9 triệu TEU sau mức tăng trưởng 2,9% so với cùng kỳ trong 10 tháng năm 2022, sau đó tăng trưởng với tốc độ CAGR 8,6% trong năm 2022-30 theo mục tiêu của Bộ Giao thông vận tải (GTVT) theo quy hoạch tổng thể cảng biển giai đoạn 2021-30.

Trong quy hoạch tổng thể cảng biển giai đoạn 2021-30, trong số các cụm cảng lớn của Việt Nam, cụm cảng Hải Phòng và cụm cảng Cái Mép – Thị Vải được xếp vào cụm cảng đặc biệt của Việt Nam và sẽ được tập trung phát triển nhiều nhất. Hai cụm cảng này sẽ có nhiều tiềm năng tăng trưởng hơn trong giai đoạn 2023-24.

Theo đó, tình trạng dư cung tại cụm cảng Hải Phòng đã giảm dần, trong đó tỷ lệ dư thừa công suất có thể giảm xuống 31,6%-22,6% trong năm 2022/23/24 do chỉ có 2 cảng đi vào hoạt động cho đến năm 2025 (GMD Nam Đình Vũ giai đoạn 2 và các cảng nước sâu của PHP) trong khi nhiều cảng thượng nguồn sẽ chuyển đổi công năng hoặc loại bỏ (cảng Hoàng Diệu của PHP). Tỷ lệ công suất dư thừa thấp có thể giúp tăng hiệu suất sử dụng của Cảng Quốc tế Hải Phòng và các cảng hạ nguồn tại đây, đồng thời cũng có thể làm giảm cạnh tranh và tăng giá bán trung bình trong những năm tới. Dự báo sản lượng container của cụm cảng Hải Phòng sẽ tăng 3,0%-8,0% so với cùng kỳ trong các năm 2022/23/24.

Đến tháng 8/2022, Bộ GTVT phê duyệt dự án nâng cấp luồng Cái Mép – Thị Vải đoạn từ phao số 0 vào bên trong. Tổng mức đầu tư 1.414 tỷ đồng, vốn sẽ được bố trí theo tiến độ thực hiện dự án trong 4 năm. Các dự án này sẽ giúp cụm cảng Cái Mép – Thị Vải tiếp nhận các tàu trọng tải lớn hơn, giảm chi phí cho các hãng vận tải, từ đó thu hút các hãng tàu toàn cầu và giúp tăng sản lượng container thông qua các cảng tại đây. Ngoài ra, việc Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết 24 sẽ là cú hích cho Cái Mép – Thị Vải khi đề cập đến việc triển khai các cơ chế, chính sách mới, nhất là đã định hướng hình thành khu thương mại tự do gắn với cảng biển khu vực Cái Mép, biến Cụm cảng Cái Mép – Thị Vải trở thành cụm cảng trung chuyển quốc tế lớn ở châu Á. Trong giai đoạn 2022-24, đối mặt với những khó khăn từ suy thoái kinh tế toàn cầu, kỳ vọng sản lượng container Cái Mép – Thị Vải sẽ tăng 5,0%-12,5% so với cùng kỳ trong giai đoạn 2022-24.

Tác động của việc tăng lãi suất và đồng USD tăng giá

Về tác động của môi trường lãi suất cao đối với các công ty niêm yết, VNDirect cho rằng các công ty có vị thế tiền mặt ròng và tỷ lệ nợ ròng/vốn chủ sở hữu thấp bao gồm VNA, PHP, VSC, MVN, SGP, VOS sẽ được hưởng lợi từ môi trường lãi suất tăng trong thời gian tới. VNDirect cho rằng PHP là doanh nghiệp hưởng lợi nhiều nhất dựa trên tỷ lệ của thu nhập lãi thuần trên lợi nhuận trước thuế 9 tháng đầu năm 2022.

Ngược lại, HAH và GMD có thể bị ảnh hưởng từ môi trường lãi suất tăng do các công ty này có tỷ ệ đòn bẩy tài chính cao để đầu tư cho kế hoạch mở rộng công suất.

Triển vọng tươi sáng hơn cho các công ty cảng biển giai đoạn 202324

Việc đồng USD tăng mạnh cũng có thể ảnh hưởng đến các kế hoạch mở rộng công suất mới vay bằng USD trong thời gian tới. Bên cạnh đó, các công ty vận tải biển như HAH và MVN hiện có mức độ rủi ro cao với các khoản nợ dựa trên USD và có thể gặp khó khăn trong môi trường USD mạnh. Tuy nhiên, do các hãng vận tải này có một phần doanh thu tính bằng USD nên phần nào có thể bù đắp được chi phí tài chính gia tăng do lỗ tỷ giá khi USD tăng giá trong thời gian tới.

Trung Anh